..::Vật Lý Việt Nam::..  


Trang Chủ Tạp Chí VLVN Thư Viện Thành Viên Xuất Sắc Bảng Xếp Hạng Theo Tháng Bản Rút Gọn
Trở lại   ..::Vật Lý Việt Nam::.. > Physical sciences - Vật lý và các ngành khoa học > Triết học trong Vật Lý và Toán Học
Ghi Danh Hỏi/ÐápLuật Diễn Đàn Thành Viên Lịch Tìm Kiếm Bài Trong Ngày Ðánh Dấu Ðã Ðọc

Trả lời
 
Ðiều Chỉnh Xếp Bài
Old 18-03-2008, 02:54 PM   #1
vatly
ĐãTừ Bỏ Tước Vị Vua Spam
 
Tham gia: Mar 2006
Bài gửi: 987
vatly is on a distinguished road
Chê bai: 5
Bị chê 28 lần trong 26 bài
Cám ơn: 115
Được cám ơn 130 lần trong 87 bài
Âm dương, bát quái, ngũ hành,...và cách nhìn từ vật lý

Âm dương bát quái ngũ hành v.v. đã có tuổi đời rất lâu và thậm chí được dùng để miêu tả rất nhiều hiện tượng từ thiên nhiên tới xã hội ...

Các nghành khoa học vật lý vẫn nổi tiếng bởi các tri thức về các qui luật thiên nhiên có thể hiểu được đối với con người của chúng .

Vậy giữa học thuyết âm dương bát quái ngũ hành ắt phải có một sự tương đồng , hoặc chúng cũng phải được thể hiện qua nhau ...

Rất lâu về trước , cá nhân tôi đã được nghe giáo sư Hoàng Phương nói về cấu trúc đại số quartnion có hiện diện trong kinh dịch (?) và tử vi v.v.

Vậy theo các anh chị thì câu chuyện này thực sự sẽ như thế nào ?
vatly is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Các thành viên chê bai vatly vì bài viết này:
nhox_chv (29-06-2010)
Các thành viên gửi lời cám ơn tới vatly vì bài viết này:
trantrang993 (23-07-2010)
Old 18-03-2008, 04:19 PM   #2
vinhnx
Member
 
Tham gia: Mar 2008
Quốc gia:
Giới tính: Male
Bài gửi: 85
vinhnx is on a distinguished road
Chê bai: 0
Bị chê 2 lần trong 1 bài
Cám ơn: 3
Được cám ơn 61 lần trong 35 bài
Send a message via Yahoo to vinhnx
Các bạn thân mến.
Trước khi đi sâu vào nội dung rất rộng và khó của chủ đề này, đầu tiên tôi xin nói về vị trí và mô thức nghiên cứu của nền Lý học phương đông một cách khách quan.
Đứng ở góc độ khoa học, thì những điều buộc phải chấp nhận càng ít càng tốt. Ví dụ, sự sai khác về mặt biểu hiện giữa 2 biểu thức: <0|Ø|0> = 0 và <0|Ø|0> → 0 ai cũng thấy rõ là không đáng kể, nói chung là chúng tương đương về lượng. Nhưng về mặt ý nghĩa thì chúng có sự khác biệt là không thể nói hết trong vài trang giấy.
Trong thế giới quan khoa học, chúng ta thực sự có ít nhất 2 mô thức để diễn đạt qui luật vận động của sự vật và hiện tượng.
Mô thức 1: Dựa vào các phương trình chuyển động hoặc các phương trình trường,.. để xác định qui vật vận động thể hiện trên hệ nghiệm là các hàm khả vi.
Các phương trình như vậy hầu hết đều là các phương trình hoặc hệ phương trình vi phân và dĩ nhiên nghiệm của nó phải là một (hoặc 1 tập) hàm khả vi. Những phương trình điển hình trong mô thức này như:
Phương trình Maxwell trong LT điện động lực cổ điển.
Phương trình Schrodinger trong cơ học lượng tử
Phương trình Klein Gordon trong trường lượng tử
Phương trình Einstein trong LT trường hấp dẫn,...
Điểm chung la các pt hoặc hệ phương trình này nhìn thì gọn gàng, đơn giản nhưng giải nó thì không hề dễ tí nào, thậm chí còn là quá khó... Trên thực tê, rất nhiều trường hợp người ta chỉ có thể giải gần đúng mà phương pháp giải nhiều khi phải mang tên một ai đó.
Công cụ tính toán của nó là cả một nền toán học hiện đại đồ sộ.
Nói vậy để các bạn có thể hình dung được các phát kiến khoa học của các thế kỷ gần đây của loài người hầu như là những thành tựu đến từ Mô thức 1.
Mô thức 2: Dựa vào qui luật vận động có tính phổ biến, có tính lặp lại của sự vật và hiện tượng, khái quát thành các chương trình tuần tự cụ thể để xác định trạng thái tồn tại của đối tượng tuần tự theo thời gian.
Ngoài các công cụ Toán hiện đại để mô tả và khảo sát đối tượng thì công cụ Toán rời rạc trở thành công cụ đắc lực cho việc chương trình hóa qui luật vận động của sự vật và hiện tượng đến bước chia nhỏ thời gian đến mức chấp nhận được.
Trên thực tế, có rất nhiều đối tượng không thể nghiên cứu bằng phương pháp của Mô thức 1, đơn giản vì tính phi tuyến và sự đột biến là những thách thức quá lớn đối với nó. Ví dụ như khi nghiên cứu về chất sống, về sinh học, về con người, v.v...
Những năm cuối của thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21, chúng ta đã bước vào kỷ nguyên tin học, sinh học. Thuật ngữ chương trình, mã hóa, giải mã ngày càng trở nên thân thuộc. Cụm từ "chương trình di truyền" trở nên dễ nghe và dễ nhận được sự đồng cảm hơn rất nhiều so với cụm từ "phương trình di truyền". Mặc dù chương trình di truyền này hoàn toàn có tính tự nhiên, hiện tại con người chỉ có thể giải mã và can thiệp chút chút mà thôi.
Hơn nữa kể cả Turing hay gần đây là Chaitin bằng Lý thuyết tin học thuật toán đều khẳng định :"Mọi vận động có qui luật đều có thể mã hóa thành các chương trình tuần tự". Điều này có nghĩa là: "các chương trình cũng minh giải được qui luật vận động của sự vật và hiện tượng".

Dĩ nhiên tốt nhất vẫn là sử dụng và khéo léo kết hợp cả 2 Mô thức. Tùy vào đối tượng nghiên cứu cụ thể mà áp dụng. Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, công nghệ sinh học - di truyền học hiện đại bằng những thành quả và thực tiển nghiên cứu của mình, đã góp những tiêng nói khách quan và mặc nhiên trở thành những minh chứng cho quan điểm trên.
Tôi nói về 2 Mô thức vì theo cách quan điểm của tôi, đó chính là một sự thật hiển hiện và là sự khác nhau căn bản của 2 xu hướng mô tả thế giới và vạn vật của Khoa học phương tây và nền Lý học phương đông.
Nói rõ hơn, khoa học phương tây nhất là các môn tự nhiên chủ yếu là xây dựng những luận lý về giới tự nhiên trên Mô thức 1, Mô thức 2 chỉ mới phát triển và đi vào nghiên cứu thực chất cùng với những thành tựu vượt bật trong những thập niên gần đây.
Ngược lại, Lý học phương đông hầu như nhạt nhòa với mô thức 1 nhưng lại phát triển mọi luận lý và ứng dụng mạnh mẽ của mình trên Mô thức 2. Nói chung là đã được vô số những thành tựu liên quan đến đạo lý, thân phận con người hoặc tổ chức của nó (gia đình, dòng tộc, dân tộc, xã hội..) và đôi khi phản ánh một cách khái quát về vận động của giới tự nhiên. Mặc dù vậy, tính hợp lý và khoa học của Lý học phương đông là có thật. Rất nên bỏ công nghiên cứu để hoàn thiện nó. Không nên chỉ vì nó có khả năng tiên đoán về "Thân-Mệnh" của mỗi người (với độ tin cậy trong nhiều trường hợp đủ sức làm cho những ai quan tâm phải "bần thần") mà gán cho nó cái mác của QuỷThần. Vì làm như vậy vô tình mỗi chúng ta làm cho Nó bị tuyệt tự một cách oan uổng.
Thiết nghĩ chúng ta cũng nên làm rõ hơn về "tính chương trình" trong các phương pháp nghiên cứu và ứng dụng của Lý học phương đông.
Trên thực tế, hầu hết các ứng dụng của Lý học đều đã có cách thức để phân định thời gian của đối tượng từ vài khoảnh khắc đến hàng chục ngàn năm... tùy loại. Mọi việc đều được xem xét trên sự biểu hiện tuần tự theo thời gian. Đến thời điểm nào thì cung ấy chi phối trong mối quan hệ có tính nội hàm như: hội, hợp, xung, chiếu, v.v... Bản thân các đối tượng thì cũng được phân loại, xếp nhóm tương ứng với các biểu hiện và tương tác khả dĩ. Nếu các bạn có kiến thức về lập trình thì sẽ thấy rõ điều này khi liên hệ khuông khổ luận lý của nó với các khái niệm lớp, đối tượng, biến, kiểu biến, phương thức, hàm, thủ tục, ngăn xếp, con trỏ lệnh, vector ngắt, cơ sở dữ liệu v.v... Do vậy, trừ khả năng Cảm Ứng với đối tượng và luận giải chi tiết, còn lại việc dùng các các chương trình máy tính để hỗ trợ cho các ứng dụng của Lý học phương đông là hết sức phù hợp.

thay đổi nội dung bởi: vinhnx, 18-03-2008 lúc 04:28 PM.
vinhnx is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Các thành viên gửi lời cám ơn tới vinhnx vì bài viết này:
dongocthinh (16-08-2010)
Old 18-03-2008, 04:48 PM   #3
vatly
ĐãTừ Bỏ Tước Vị Vua Spam
 
Tham gia: Mar 2006
Bài gửi: 987
vatly is on a distinguished road
Chê bai: 5
Bị chê 28 lần trong 26 bài
Cám ơn: 115
Được cám ơn 130 lần trong 87 bài
Cảm ơn anh đã post bài trả lời nhưng :

em thấy anh có sơ hở trong lập luận rồi
vatly is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Thành viên 2 chê bai vatly vì bài viết này:
langbiang (22-05-2008), nguyenkhang_20 (17-12-2010)
Các thành viên gửi lời cám ơn tới vatly vì bài viết này:
kayo (11-05-2010)
Old 18-03-2008, 08:42 PM   #4
vinhnx
Member
 
Tham gia: Mar 2008
Quốc gia:
Giới tính: Male
Bài gửi: 85
vinhnx is on a distinguished road
Chê bai: 0
Bị chê 2 lần trong 1 bài
Cám ơn: 3
Được cám ơn 61 lần trong 35 bài
Send a message via Yahoo to vinhnx
Vatly ơi, muốn post hình ảnh phải làm sao hè?
Cái món cay xè này mà không có hình ảnh để minh họa dễ tẩu hỏa nhập M nhất đời.
Trích:
em thấy anh có sơ hở trong lập luận rồi

Em thấy chỗ nào sơ hở chịu khó gia cố lại giúp anh tí. Các bài viết loại này hết sức vô vi, viết đúng thì khó một, viết đúng ý mọi người thì khó như lên trời. Tình huống thường gặp là khoa học chính thống bảo rằng:"em hổng quen hắn..!!!", còn Lý học kinh điển thì phàn nàn:"hảy để mặc tôi, tôi già rồi hổng thích ra gió..!!!". Thực ra ta không biết lấy tiêu chí nào để xét cho ra ngô ra khoai nữa, vì vậy trước khi xây dựng được các cơ sở luận lý của nó rất cần sự 9 bỏ làm 10 của người đọc.
Theo kinh nghiệm của các tiền bối, duy lý không phải là cách để tiếp cận Lý học-Dịch học mà là cảm ứng, thiền định hoặc giác ngộ v.v... (quả là gian nan!)
Bài viết trên nhằm vạch ra "tính chương trình" mang tính chủ đạo trong phương pháp nghiên cứu, diễn đạt của Lý học-Dịch học phương đông. Ví dụ để xét quá trình sinh-vượng-mộ của con người nói chung, về mặt sinh học, ta nói:"lúc mới sinh con người chỉ nặng vài kg, chỉ biết bú,..; Đến khi vài chục tuổi thì nặng vài chục kg, biết yêu, riêng phụ nữ thì còn biết đẻ,...; Đến 60, 70 tuổi thì nếu không đứt bóng thì cũng khó mà làm ăn gì được v.v... và v.v..."
Chưa cần phải gán quá trình như vậy với yếu tố huyền bí nào, chỉ cần sự diễn đạt trạng thái tồn tại và cách hành xử của đối tượng theo trình tự tuần tự của thời gian, ta hoàn toàn có thể gọi cái bảng trạng thái-hành xử đó là chương trình diễn đạt quá trình sinh-hủy của đối tượng. Dĩ nhiên sự thân thiên, độ tin cậy, độ phân giải,... cũng giống như mọi phép "đo và phán" khác, hay dỡ còn phụ thuộc vào yếu tố công nghệ.
Có gì sơ hở Vatly cứ nêu ra, ta điều chỉnh lại vì càng đi sâu nó sẽ vừa giông giống "Khoa học" vừa giống giống "Đạo", mạnh ai nấy nói... là chít luôn vì ồn ào đấy...hì
Thân mến
vinhnx is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 18-03-2008, 08:56 PM   #5
Vạn lý Độc hành
Vạn dặm một mình
 
Vạn lý Độc hành's Avatar
 
Tham gia: Jul 2006
Cư trú: Chân trời góc biển
Quốc gia:
Giới tính: Male
Bài gửi: 707
Vạn lý Độc hành is on a distinguished road
Chê bai: 13
Bị chê 76 lần trong 68 bài
Cám ơn: 962
Được cám ơn 1,556 lần trong 797 bài
Trích:
Nguyên văn bởi vatly
em thấy anh có sơ hở trong lập luận rồi

EM chưa đọc bài của anh vinhnx (thực sự là em ko có hiểu biết gì về vấn đề này), nhưng cách trả lời của bác vatly rất gây khó chịu. Em nhắc nhở bác về kiểu viết trả lời này, nó mang tính chất câu kéo y như mấy em teenage chat chit sì pam để câu bài. Bác thấy bài viết có chỗ nào bác có thể chỉ ra để cùng thảo luận chứ đừng nói kiểu đó.
Vạn lý Độc hành is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Các thành viên gửi lời cám ơn tới Vạn lý Độc hành vì bài viết này:
nguyenkhang_20 (17-12-2010)
Old 18-03-2008, 10:19 PM   #6
Skywalker
walkin' imaginary time
 
Skywalker's Avatar
 
Tham gia: Mar 2006
Cư trú: Hà Nội
Quốc gia:
Giới tính: Male
Bài gửi: 933
Skywalker is on a distinguished road
Chê bai: 1
Bị chê 40 lần trong 35 bài
Cám ơn: 150
Được cám ơn 323 lần trong 221 bài
Send a message via Yahoo to Skywalker
Bác Vinhnx cho em thắc mắc một cái:

Bác viết:
Trích:
Mô thức 2: Dựa vào qui luật vận động có tính phổ biến, có tính lặp lại của sự vật và hiện tượng, khái quát thành các chương trình tuần tự cụ thể để xác định trạng thái tồn tại của đối tượng tuần tự theo thời gian.
...
Ngược lại, Lý học phương đông hầu như nhạt nhòa với mô thức 1 nhưng lại phát triển mọi luận lý và ứng dụng mạnh mẽ của mình trên Mô thức 2. Nói chung là đã được vô số những thành tựu liên quan đến đạo lý, thân phận con người hoặc tổ chức của nó (gia đình, dòng tộc, dân tộc, xã hội..) và đôi khi phản ánh một cách khái quát về vận động của giới tự nhiên

thì em thấy không ổn lắm vì Lý học dường như không phải là tuần tự dù có tính chu kỳ. Ví dụ trong cái nhìn về thiên nhiên, người ta nói đến xuân hạ thu đông nhưng bảo thống kê thời tiết nhiều năm để tiên đoán mùa xuân này ấm hơn mọi năm ... thì hoàn toàn không có. Đó cũng là lý do khiến nó có độ sai lệch rất lớn mà một khoa học dù không chặt chẽ nhưng nếu có tính kế thừa (tuần tự) thì ắt là sẽ khác.

Skywalker is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 18-03-2008, 11:30 PM   #7
vinhnx
Member
 
Tham gia: Mar 2008
Quốc gia:
Giới tính: Male
Bài gửi: 85
vinhnx is on a distinguished road
Chê bai: 0
Bị chê 2 lần trong 1 bài
Cám ơn: 3
Được cám ơn 61 lần trong 35 bài
Send a message via Yahoo to vinhnx
Sky thân mến,
Đụng vào cái món này là sẽ hao tổn nguyên khí lắm đa..
Nhưng cũng may, thắc mắc của Sky thuộc dạng bình thường
Trích:
Nguyên văn bởi Sky
thì em thấy không ổn lắm vì Lý học dường như không phải là tuần tự dù có tính chu kỳ. Ví dụ trong cái nhìn về thiên nhiên, người ta nói đến xuân hạ thu đông nhưng bảo thống kê thời tiết nhiều năm để tiên đoán mùa xuân này ấm hơn mọi năm ... thì hoàn toàn không có. Đó cũng là lý do khiến nó có độ sai lệch rất lớn mà một khoa học dù không chặt chẽ nhưng nếu có tính kế thừa (tuần tự) thì ắt là sẽ khác.

Sky ơi, tuần tự ở đây không có nghĩa là kế thừa mà là lần lượt, kế tiếp (sequence). Một chương trình tuần tự được dùng trong bài viết là để chỉ trình tự xác định được trạng thái của đối tượng theo từng bước thời gian xác định và kế tiếp nhau.
Trong Tử vi, Tử bình hay trong Bát quái,.. luôn chỉ ra cách thức để xác định thời gian, và cách vận hành tuần tự từ quá khứ đên tương lai. Ngay khái niệm satna cũng là để nói về clock tế vi, đi kèm với nó là quan hệ nhân quả.
Ví dụ chưa cần phải gán quá trình vận động của đối tượng với tham số, đối số nào, chỉ cần sự diễn đạt trạng thái tồn tại và cách hành xử của đối tượng theo trình tự tuần tự của thời gian, ta hoàn toàn có thể gọi cái bảng trạng thái-hành xử đó là chương trình diễn đạt quá trình vận động của đối tượng. Dĩ nhiên sự thân thiên, độ tin cậy, độ phân giải,... cũng giống như mọi phép "đo và phán" khác, hay dỡ còn phụ thuộc vào yếu tố công nghệ.
Nôi dung bài viết trên chưa đá động vì đến tính dự báo hay tính tiên tri. Bài viết trên chỉ nhằm vạch ra "tính chương trình" mang tính chủ đạo trong phương pháp nghiên cứu, diễn đạt của Lý học-Dịch học phương đông.
vinhnx is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 19-03-2008, 12:21 PM   #8
vatly
ĐãTừ Bỏ Tước Vị Vua Spam
 
Tham gia: Mar 2006
Bài gửi: 987
vatly is on a distinguished road
Chê bai: 5
Bị chê 28 lần trong 26 bài
Cám ơn: 115
Được cám ơn 130 lần trong 87 bài
Trích:
Nguyên văn bởi Vạn lý Độc hành
EM chưa đọc bài của anh vinhnx (thực sự là em ko có hiểu biết gì về vấn đề này), nhưng cách trả lời của bác vatly rất gây khó chịu. Em nhắc nhở bác về kiểu viết trả lời này, nó mang tính chất câu kéo y như mấy em teenage chat chit sì pam để câu bài. Bác thấy bài viết có chỗ nào bác có thể chỉ ra để cùng thảo luận chứ đừng nói kiểu đó.

chú Vạn Lý Độc Hành : Chú nói rõ là gây khó chịu cho ai ?

@ anh Vinhnx : chỗ nầy và link ở bên trong có nói tới hướng dẫn cách post ảnh đấy ạ
http://www.vatlyvietnam.org/forum/sh...3104#post23104

MODSS : để cho mình bài này mấy ngày để anh Vinhnx post được ảnh xong thì xin xóa đi cùng với bài lạc chủ để một cách con nít vớ vẩn ở trên của chú Vạn Lý Độc Hành .

thay đổi nội dung bởi: vatly, 19-03-2008 lúc 01:13 PM.
vatly is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Các thành viên chê bai vatly vì bài viết này:
nguyenkhang_20 (17-12-2010)
Old 19-03-2008, 09:26 PM   #9
Skywalker
walkin' imaginary time
 
Skywalker's Avatar
 
Tham gia: Mar 2006
Cư trú: Hà Nội
Quốc gia:
Giới tính: Male
Bài gửi: 933
Skywalker is on a distinguished road
Chê bai: 1
Bị chê 40 lần trong 35 bài
Cám ơn: 150
Được cám ơn 323 lần trong 221 bài
Send a message via Yahoo to Skywalker
Trích:
Trong Tử vi, Tử bình hay trong Bát quái,.. luôn chỉ ra cách thức để xác định thời gian, và cách vận hành tuần tự từ quá khứ đên tương lai. Ngay khái niệm satna cũng là để nói về clock tế vi, đi kèm với nó là quan hệ nhânquả.

Thưa bác Vinhnx, ở đây chúng ta đang nói đến Dịch - Lý phương Đông, vì vậy em mong bác nói rõ quan điểm về những vấn đề này:

1. Dịch Lý có tọa độ gốc cho không thời gian chăng? nếu có thì nó được xác định như thế nào?

2. Sự vận hành (hay chương trình) của Dịch Lý có dung chấp sự xuất hiện ngẫu nhiên hay không?

3. Cách giải đoán (đo và phán) phương trình cần dựa trên yếu tố "cảm ứng". Vậy yếu tố này được diễn tả như thế nào dưới góc nhìn vật lý học?

Hì hì, em hy vọng thành tựu tu tập của bác đã đạt đến mức thông thần để càng viết bài nguyên khí càng cường tráng, như thể nước lũ cuốn trôi mọi cản trở trên đường đi!
Skywalker is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 20-03-2008, 11:15 PM   #10
Matsogao
Junior Member
 
Tham gia: Mar 2008
Quốc gia:
Giới tính: Male
Bài gửi: 23
Matsogao is on a distinguished road
Chê bai: 0
Bị chê 0 lần trong 0 bài
Cám ơn: 0
Được cám ơn 3 lần trong 3 bài
anh Vinh ui
anh có mô thức 1: dựa vào pt để xác định quy luật vận động...
mô thức 2: dựa vào quy luật để khái quát thành pt...
vậy quy luật và pt thì cái nào cần có trước ? tui không rõ lắm.
phương Đông và Tây nếu thế có gì khác nhau nhỉ? người nuôi gà và người chuyên ấp trứng thì phải? đều có nguy cơ cao dính H5N1.
ui bát quái...
Matsogao is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 01-04-2008, 12:04 AM   #11
vinhnx
Member
 
Tham gia: Mar 2008
Quốc gia:
Giới tính: Male
Bài gửi: 85
vinhnx is on a distinguished road
Chê bai: 0
Bị chê 2 lần trong 1 bài
Cám ơn: 3
Được cám ơn 61 lần trong 35 bài
Send a message via Yahoo to vinhnx
Trích:
Nguyên văn bởi Matsogao
anh có mô thức 1: dựa vào pt để xác định quy luật vận động...
mô thức 2: dựa vào quy luật để khái quát thành pt...
vậy quy luật và pt thì cái nào cần có trước ? tui không rõ lắm.

Sao kỳ dzậy, mắt mũi sao rồi Đ/C mình ơi... đọc cẩn thận chút coi !!
Trích:
Mô thức 1: Dựa vào các phương trình ...... để xác định qui vật vận động thể hiện trên hệ nghiệm là các hàm khả vi.
Mô thức 2: Dựa vào qui luật vận động ........ khái quát thành các chương trình tuần tự cụ thể để xác định trạng thái tồn tại của đối tượng tuần tự theo thời gian.

Trích:
Nguyên văn bởi Skywalker
Dịch Lý có tọa độ gốc cho không thời gian chăng? nếu có thì nó được xác định như thế nào?

Hỏi gì mà thốn vậy Sky!.. nếu nói từ góc độ Dịch lý, theo tôi gốc cũng tính từ khởi nguyên tương ứng với Thái Cực. Còn đối với các ứng dụng cụ thể của các loại Học thuật phương đông thì không gian-thời gian xác định tương ứng với đối tượng đang xét.
Trích:
Sự vận hành (hay chương trình) của Dịch Lý có dung chấp sự xuất hiện ngẫu nhiên hay không?

Theo tôi nói chung là có Sky ạ, cái này cũng tương tự như các chương trình máy tính, các message hoặc interrupt (các sự kiện tác động ngẫu nhiên) vẫn tác động được lên ct. Nhưng chắc chỉ trong khuôn khổ những tác động có thể có được dự tính trước.
Trích:
Cách giải đoán (đo và phán) phương trình cần dựa trên yếu tố "cảm ứng". Vậy yếu tố này được diễn tả như thế nào dưới góc nhìn vật lý học?

Hiện tại chúng ta chưa biết rõ về khả năng của con người lắm, nên tạm thời có thể xem "Cảm ứng của con người" là một loại thiết bị nhập đặc biệt đi..., dĩ nhiên độ tin cậy hoặc tính khách quan thì... không xác định được.
vinhnx is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Các thành viên gửi lời cám ơn tới vinhnx vì bài viết này:
Skywalker (03-04-2008)
Old 03-04-2008, 01:04 PM   #12
Skywalker
walkin' imaginary time
 
Skywalker's Avatar
 
Tham gia: Mar 2006
Cư trú: Hà Nội
Quốc gia:
Giới tính: Male
Bài gửi: 933
Skywalker is on a distinguished road
Chê bai: 1
Bị chê 40 lần trong 35 bài
Cám ơn: 150
Được cám ơn 323 lần trong 221 bài
Send a message via Yahoo to Skywalker
Thưa bác Vinhnx, sau khi khái quát 2 mô thức tiếp cận thế giới của khoa học cổ điển và Dịch lý, bác có thể cho biết khả năng thống nhất 2 mô thức này ra sao chăng (viễn kiến và ứng dụng ....)?

Ví dụ, liệu có thể xây dựng một hệ thống máy tính mô phỏng thế giới hoàn hảo dến mức đánh lừa cả năng lực nhận thức của con người như trong bộ phim Matrix không?
Skywalker is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 17-05-2008, 06:03 PM   #13
Bí danh
Lơ tơ mơ
 
Bí danh's Avatar
 
Tham gia: Apr 2008
Cư trú: Nhà
Quốc gia:
Giới tính: Male
Bài gửi: 50
Bí danh is on a distinguished road
Chê bai: 4
Bị chê 2 lần trong 2 bài
Cám ơn: 9
Được cám ơn 6 lần trong 6 bài
Em là một ngừoi rất thích triết học cổ phương Đông.
Em nghĩ răng các môn KH của phương Tây, trong đó có cả Vật Lý chỉ là sự chi tiết hóa những cái quá cụ thể. Còn những thứ ko thể giải thích đc, có lẽ là những sự kiện liên quan đến xác suất thì có lẽ phải dùng đến Kinh Dịch. Em nghĩ nó có phần nào là triết học siêu hình đấy, em thấy điều đó qua triết lý của Đạo Gia, tuy là khác với triết của Mác nhưng em vẫn rất hứng thú với cái siêu hình này.
Thêm nữa, hình như Leibniz đã từng nhận ra sự liên hệ giữa nhị phân với Kinh Dịch đó, nhưng người ta đã chứng minh nó là sai rùi.Hi hi
Bí danh is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 17-05-2008, 10:40 PM   #14
Bí danh
Lơ tơ mơ
 
Bí danh's Avatar
 
Tham gia: Apr 2008
Cư trú: Nhà
Quốc gia:
Giới tính: Male
Bài gửi: 50
Bí danh is on a distinguished road
Chê bai: 4
Bị chê 2 lần trong 2 bài
Cám ơn: 9
Được cám ơn 6 lần trong 6 bài
Talking

Trích:
Nguyên văn bởi vinhnx
Theo kinh nghiệm của các tiền bối, duy lý không phải là cách để tiếp cận Lý học-Dịch học mà là cảm ứng, thiền định hoặc giác ngộ v.v... (quả là gian nan!)

Chính xác đó bác, theo hiểu biết nông cạn của em thì người tu Đạo hay Phật khi đạt đến một mức độ nào đó (trong đạo thì có lẽ là khi bắt đầu có khí cảm),sẽ có những sự thay đổi nhất định trong "cảm nhận" ( từ này khó diễn đạt lắm) về thế giới. Họ sẽ nhận định rõ ràng hơn về Âm Dương, Ngũ Hành...
Ko rõ chỉ là do những thay đổi về sinh lý thôi hay đó chính là sự thật. Em thiên về phương án thứ 2.
Bí danh is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 19-05-2008, 12:50 AM   #15
vinhnx
Member
 
Tham gia: Mar 2008
Quốc gia:
Giới tính: Male
Bài gửi: 85
vinhnx is on a distinguished road
Chê bai: 0
Bị chê 2 lần trong 1 bài
Cám ơn: 3
Được cám ơn 61 lần trong 35 bài
Send a message via Yahoo to vinhnx
Trích:
Nguyên văn bởi Skywalker
Thưa bác Vinhnx, sau khi khái quát 2 mô thức tiếp cận thế giới của khoa học cổ điển và Dịch lý, bác có thể cho biết khả năng thống nhất 2 mô thức này ra sao chăng (viễn kiến và ứng dụng ....)?

Ví dụ, liệu có thể xây dựng một hệ thống máy tính mô phỏng thế giới hoàn hảo dến mức đánh lừa cả năng lực nhận thức của con người như trong bộ phim Matrix không?

Sky thân mến, để hiểu rõ hơn về hai mô thức, ta nhắc lại một chút về một vài luận điêm có liên quan đến mô thức 2.
Ta biết Gregory Chaitin đã liên hệ vấn đề hiểu được vũ trụ với lý thuyết thông tin. Nói về thông tin, ta nói đến sự phức hợp, W. Leibniz cho rằng:
"Một lý thuyết phải đơn giản hơn tổng dữ liệu mà nó giải thích, nếu không nó không thực sự giải thích được điều gì cả".
Về các khái niệm phức hợp và đơn giản. Gregory Chaitin đã đưa ra lý thuyết thông tin thuật toán để giải bài toán đo độ phức hợp. Tư tưởng chính của lý thuyết đó là:
"Mọi định luật khoa học giải thích hoặc mô tả những đối tượng toán học hoặc một tập dữ liệu đều có thể biểu diễn bằng một chương trình xử lý - tính toán tuần tự".
Kích thước của một chương trình xử lý - tính toán tuần tự là số bit chứa trong chương trình đó. Một chương trình càng phức tạp thì kích thước càng lớn.
Nếu một hiện tượng chịu sự điều khiển của một định luật thì định luật này có thể mã hóa thành một chương trình xử lý - tính toán tuần tự. Định luật càng đơn giản thì chúng ta hiểu biết hiện tượng càng sâu sắc và càng dễ sử dụng. Tính đơn giản hay phức hợp được phản ánh trong kích thước của chương trình..
Theo quan điểm này thì:
1/ Xác định độ phức hợp bằng kích thước chương trình xử lý thông tin trong hệ nhị phân.
2/ Thay vì chỉ cố gắng xây dựng và giải các phương trình toán học cho đối tượng chúng ta có thể dùng tổ hợp những chương trình xử lý - tính toán tuần tự trong hệ nhị phân để giải quyết bài toán tương đương.

Nói rõ nghĩa hơn, nếu có một lý thuyết thực sự thì phải có một "sự nén", nghĩa là chương trình xử lý - tính toán tương ứng phải có kích thước nhỏ hơn dữ liệu. Trong trường hợp không tồn tại một lý thuyết thực sự nào thì thì dãy bit đó được gọi là ngẫu nhiên về thuật toán hoặc bất khả quy.
Nói về mô thức 1, tôi nghĩ các bạn đã biết rõ khả năng của nó. Tuy nhiên khi nghiên cứu các đối tượng có độ phức hợp cao (mật độ liên kết thông tin lớn) như chất sống hoặc phức hợp của nó..., thì các phương pháp nghiên cứu của mô thức 1 tỏ ra không phù hợp lắm với các lực lượng vật chất đặc biệt này.
Như vậy, với ít nhất là phải sử dụng cả 2 mô thức này Con Người mới khả dĩ luận giải đúng đắn được các thứ tồn tại quanh ta và chính chúng ta. Sự bổ sung cho nhau và không loại trừ nhau là đặc điểm hợp nhất rất tự nhiên của chúng.
Về câu hỏi:"liệu có thể xây dựng một hệ thống máy tính mô phỏng thế giới hoàn hảo dến mức đánh lừa cả năng lực nhận thức của con người ?".
Chuyện này theo tôi là bình thường, nhận thức của con người vốn rất dễ bị đánh lừa mà Sky, do chính vì tính kiêu ngạo của con người đấy Sky ạ...!
Thân mến
vinhnx is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 21-05-2008, 03:12 PM   #16
Skywalker
walkin' imaginary time
 
Skywalker's Avatar
 
Tham gia: Mar 2006
Cư trú: Hà Nội
Quốc gia:
Giới tính: Male
Bài gửi: 933
Skywalker is on a distinguished road
Chê bai: 1
Bị chê 40 lần trong 35 bài
Cám ơn: 150
Được cám ơn 323 lần trong 221 bài
Send a message via Yahoo to Skywalker
Hì hì, em thích cái quan niệm rằng âm dương bát quái là một quy luật phổ quát của vũ trụ và mọi sự vật đều có thể biểu diễn compressional bằng âm dương bát quái ... Tuy nhiên điều này có vẻ không đúng vì lý thuyết Dịch tự nó không chứa đựng ngẫu nhiên, thay vào đó "cảm ứng của con người" mới là đầu mối chứa đựng giá trị ngẫu nhiên trong mô hình hóa!

Hiện tại em mới chỉ có cảm tính sơ sài về sự thiếu sót của Dịch dựa trên chính giả thiết của bác Vinhnx về chương trình xử lý tính toán tuần tự trên hệ nhị phân. Và nếu có một chương trình như thế thì kích thước của nó phải lớn như chính Vũ trụ vậy và hệ quả là không thể có một Matrix như bộ phim của Hollywood (em muốn nói tính chất "thực" của thế giới với đa số con người chứ không chỉ lừa được một vài cá nhân).

Em xin suy diễn tiếp, rằng sự tiếp cận của 2 mô thức đến thế giới như thế là hoàn toàn không tương thích. Không có một khả năng kết hợp nào khả dĩ áp dụng cho tất cả mọi người. Thay vào đó, mỗi cá nhân có thể học tập tri thức khoa học theo mô thức 1 mà vẫn duy trì sự cảm ứng riêng biệt (nếu có) theo mô thức 2, để luận giải thế giới.

Trở lại cái lý do nghi ngờ về âm dương, em muốn hỏi bác Vinhnx đã thấy ở đâu có một chương trình bói Dịch nghiệm đúng 70% sự kiện chưa?
Skywalker is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 22-05-2008, 01:09 AM   #17
vinhnx
Member
 
Tham gia: Mar 2008
Quốc gia:
Giới tính: Male
Bài gửi: 85
vinhnx is on a distinguished road
Chê bai: 0
Bị chê 2 lần trong 1 bài
Cám ơn: 3
Được cám ơn 61 lần trong 35 bài
Send a message via Yahoo to vinhnx
Sky thân mến, qua bài viết trên của Sky
Trích:
... Tuy nhiên điều này có vẻ không đúng vì lý thuyết Dịch tự nó không chứa đựng ngẫu nhiên, thay vào đó "cảm ứng của con người" mới là đầu mối chứa đựng giá trị ngẫu nhiên trong mô hình hóa!
...
Và nếu có một chương trình như thế thì kích thước của nó phải lớn như chính Vũ trụ vậy và hệ quả là không thể có một Matrix như bộ phim của Hollywood
....
Em xin suy diễn tiếp, rằng sự tiếp cận của 2 mô thức đến thế giới như thế là hoàn toàn không tương thích. Không có một khả năng kết hợp nào khả dĩ áp dụng cho tất cả mọi người. Thay vào đó, mỗi cá nhân có thể học tập tri thức khoa học theo mô thức 1 mà vẫn duy trì sự cảm ứng riêng biệt (nếu có) theo mô thức 2, để luận giải thế giới.

Thú thật, tôi cảm thấy buồn buồn..., vì nói một hồi tôi nhận ra được:"Sky chẳng hiểu gì về những điều tôi đã viết.."
Tóm lại, tôi nhấn mạnh để tránh sự hiểu lầm, mô thức 2 chính là xu hướng khoa học-công nghệ đang được phát triển mạnh mẽ hiện nay. Đó chính là khoa học máy tính, là công nghệ thông tin, là điều khiển học, là thế giới digital, là internet, là chương trình di truyền DNA, là chương trình hành động, là tất cả những hoạt động hoặc quá trình thực thi theo lịch thới gian xác định mà con người đang gọi là chương trình các loại...
Một vài ví dụ dễ hiễu về tính hợp nhất tự nhiên của 2 mô thức là công nghệ multimedia số và tương tự, truyền hình số và truyền hình tương tự,...
Trên thực tế có rất nhiều sự vật và hiện tượng người ta vẫn đang sử dụng mô thức 2 để nghiên cứu một cách khoa học, chẳng hạn như trong sinh học, trong xã hội học... Thuật ngữ mã hóa, giải mã, chương trình, thông tin, xử lý tin, số hóa, đóng gói thông tin, truyền số liệu v.v... là những từ ngữ không lạ gì trong thế giới hiện đại. Ngay cả ngôn ngữ, tiếng nói hay tất cả những thứ gì thuộc về tin, con người đã và đang làm với mô thức 2.
Tôi chưa nói gì đến âm dương, ngũ hành hay Dịch lý chỉ vì tôi muốn ta không nên hồ đồ, nông nổi mà cho rằng người xưa có khả năng tư duy kém chúng ta. Kiến thức tích lũy thì xưa và nay tùy theo giai đoạn lịch sử có chênh lệch nhưng năng lực tư duy độc lập của loài người thì sự sai khác không nhiều. Nói chung sự tiến hóa sinh học của loài người là không đáng kể. Nhưng Sky ạ, ngay các bản văn còn lưu lại cho đến ngày nay của Dịch lý hay các Học thuật cổ Đông phương cũng còn nhiều vấn đề để bàn. Sự thất truyền từng phần hay toàn phần là chuyện phổ biến. Theo tôi, nếu chúng ta tiếp tục kiêu ngạo mà nhìn về các thành tựu nghiên cứu của người xưa bằng cặp kính đen "dị đoan, đồng bóng, lạc hậu, vô bổ...", thì đến khi nhân loại hoàn thiện được TOE, sẽ có "quả báo", nó trông sẽ chẳng khác mấy cái mà hiện nay nhiều người cho là lạc hậu. Dĩ nhiên cái mà tôi muốn nói đến là một nền Lý số chân chính, Dịch lý chân chính, Học thuật chân chính...
vinhnx is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 22-05-2008, 03:39 PM   #18
Skywalker
walkin' imaginary time
 
Skywalker's Avatar
 
Tham gia: Mar 2006
Cư trú: Hà Nội
Quốc gia:
Giới tính: Male
Bài gửi: 933
Skywalker is on a distinguished road
Chê bai: 1
Bị chê 40 lần trong 35 bài
Cám ơn: 150
Được cám ơn 323 lần trong 221 bài
Send a message via Yahoo to Skywalker
Ồ, có thể em chẳng hiểu những điều bác Vinhnx đã viết thật, nhưng em e là bác cũng đã hiểu sai vài ý của em trong bài viết trước, bởi vì em đang đề cập thẳng tới Dịch lý như một dạng theo mô thức 2 của bác, chứ không phải là tất cả các ứng dụng theo mô thức này. nếu bác để ý 1 tý thì sẽ thấy em nêu vấn đề "hoàn hảo" trong mô phỏng thế giới bằng xử lý tính toán, chứ không phải vấn đề "khả dĩ hay không khả dĩ" (Ôi trời! thế giới số đáng kinh ngạc biết bao!!!)

Nếu bác băn khoăn về Dịch thì em có thể thưa thế này: pho kinh Dịch đó là tử vật và việc viết một chương trình xử lý tính toán dựa trên bất kỳ tiên đề nào của kinh Dịch cũng không thể làm nó sống động được. Như vậy thì em hoàn toàn đồng ý với bác về vai trò "cảm ứng" trong tư duy người dùng Dịch - mà xưa cũng như nay, thời nào cũng người giỏi người kém. Vấn đề đến đây sẽ đi đến chỗ phải đánh giá toàn diện cái năng lực nhận thức của con người so sánh với một chương trình xử lý tính toán ở bất kỳ bậc nào.

Em xin nhấn mạnh một lần nữa: em không có gì để phản đối 2 mô thức của bác vì chúng quá hiển nhiên. Chuỗi thảo luận của em bám theo cái "âm dương bát quái" như tên của topic này đã nói (và nó nằm trong box triết học kia mà! . Em cũng không có ý kiến gì về năng lực của bất kỳ hệ thống xử lý thông tin nào, và em chỉ băn khoăn liệu máy tính có dám và làm được cái việc của ông thày bói mù vẫn ngồi cạnh gốc đa chùa Hương mùa lễ hội? Mô phỏng thực tại đồng nghĩa với khả năng tiên đoán, nếu mô phỏng đúng thì tiên đoán càng chính xác, nhưng đâu là giới hạn của độ chính xác trong tiên đoán của một hệ thống xử lý tính toán và một bậc cao nhân Dịch lý?
Skywalker is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 22-05-2008, 05:14 PM   #19
Hà yên
Junior Member
 
Tham gia: Dec 2007
Quốc gia:
Giới tính: Male
Bài gửi: 7
Hà yên is on a distinguished road
Chê bai: 0
Bị chê 2 lần trong 1 bài
Cám ơn: 1
Được cám ơn 2 lần trong 2 bài
Thuyết Âm - Dương, Ngũ hành là một học thuyết tiêu biểu nhất của Triết học Trung hoa cổ , trung đại. Vì là Triết học cho nên phương pháp luận nghiên cứu và nhận thức khác với phương pháp luận nghiên cứu Khoa học tự nhiên. Nó khác trong chính định nghĩa của Triết học :" Triết học là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về Thế giới; về vị trí, vai trò của con người trong Thế giới ấy." Vậy mà trong cuộc đăng đàn vè Âm-dương, Ngũ hành này, tôi linh cảm các diễn giả đã mải mê sa vào tìm kiếm phương pháp luận của Khoa học Tự nhiên bằng những khái niêm, công cụ nghiên cứu Tự nhiên. Tôi e là khiên cưỡng.
Tôi thấy cần giới thiệu lại cho tỏ tường vè thuyết Âm - dương, Ngũ hành : Âm dương và Ngũ hành là hai phạm trù quan trọng trong tư tưởng Triết học Trung hoa, là những khái niệm trừu tượng đầu tiên của người xưa đối với sự sản sinh biến hóa của Vũ trụ. Việc sử dụng hai phạm trù Âm dương và Ngũ hành đánh dấu bước tiến bộ tư duy khoa hoc đầu tiên nhằm thoát khỏi sự khống chế về tư tưởng do các khái niêm Thượng đế, Quỉ thần truyền thống đem lại. Đó là cội nguồn của quan điểm duy vật và biện chứng trong tư tưởng Triết học của người Trung hoa ;
A- Tư tưởng triết học về Âm - Dương.
"Dương" là ánh sáng Mặt trời, hay những gì thuộc về ánh sáng Mặt trời và ánh sáng, "Âm" có nghĩa là thiếu ánh sáng Mặt trời, tức là bóng râm hay bóng tối. Về sau ÂM -Dương được coi như hai khí ; hai nguyên lý hay hai thế lực Vũ trụ : biểu thị cho Giống đực , Hoạt động , Hơi nóng , Ánh sáng . Khôn ngoan , Rắn rỏi v. v.. tức là Dương, Giống cái , Thụ động , Khí lạnh , Bóng tối , Ẩm ướt , Mềm mỏng v.v.. tức là Âm. Chính do sự tác động qua lại giữa chúng mà sinh ra mọi sự vật, hiện tượng trong Trời đất.
Trong Kinh dịch sau này có bổ sung thêm lịch trình biến hóa của Vũ trụ có khởi điểm là Thái cực. Từ Thái cực mà sinh ra Lưỡng nghi (Âm-dương),
rồi Tứ tượng , rồi bát quái, Vậy, nguồn gốc Vũ trụ là Thái cực chứ không phải Âm - Dương. Đa số học giả cho Thái cực là thứ khí "Tiên Thiên". trong đó ẩn chứa hai nguyên tố ngược nhau về tính chất là Âm - Dương
Đây là một quan niệm tiến bộ so với quan niệm Thượng đế làm chủ Vũ trụ của các đời trước.
Hai thế lực Âm - Dương không tồn tại biệt lập mà thống ngất, chế ước lẫn nhau theo nguyên lý sau :
- Âm - Dương thống nhất thành Thái cực. Nguyên lý này nêu lên tính toàn vẹn, tính chỉnh thể, cân bằng của cái đa và cai đơn nhất. Chính nó bao hàm tư tưởng về sự thống nhất giữa cái bất biến và cái biến đổi.
- Trong Âm có Dương; trong Dương có Âm. Nguyên lý này nói lên khả năng biến đổi Âm - Dương đã bao hàm trong mỗi mặt đối lập của Thái cực.
Các nguyên lý trên được khái quát bằng một vòng tròn khép kín, có hai hình đen trắng tượng trưng cho Âm - Dương , hai hình này tuy cách biệt hẳn nhau, đối lập nhau nhưng ôm lấy nhau. Mặt khác, chỗ hình đen phồng ra có một điểm trắng, chỗ hình trắng phồng ra lại có một điểm đen; chỗ hình đen phổng ra là chỗ hình trắng thắt lại, ngược lại chỗ hình trắng phồng ra là chỗ hình đen thắt lại. Hình ảnh ấy diễn tả : Âm thịnh dần thì Dương suy dần, ngược lại Dương thịnh dần thì Âm suy dần; Khi Âm cực thịnh đã có một mầm Dương (điểm trắng) xuất hiên rồi, khi Dương cực thịnh đã có một mầm Âm (diểm đen) xuất hiện. Như vậy, chẳng những Âm - Dương xoắn lấy nhau mà trong Âm cò có Dương, trong Dương còn có Âm nữa.
Để giải thích lịch trình biến hóa trong Vũ trụ, người Trung hoa dẫ khái quát cái lôgic tất định : Thái cực sinh Lưỡng nghi (Âm - Dương), Lưỡng nghi sinh Tứ tượng (Thái Dương - Thiếu Âm -Thiếu Dương - Thái Âm) và Tứ tượng sinh Bát quái (Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài). Bát quái sinh ra vạn vật (vô cùng vô tận).
Tư tưởng Triết về học Âm - Dương đạt tới mức thành một hệ thống hoàn chỉnh trong tác phẩm Kinh Dịch. Tinh hoa của Kinh Dịch là Dịch, Tượng, Từ, với nguyên lý Âm Dương. "Dịch" là biến hóa của vạn vật. Qui luật biến hóa ấy là từ không rõ ràng đến rõ ràng, từ rõ ràng đến sâu sắc, từ sâu sắc đến kịch liệt, từ kịch liệt đến cao điểm, từ cao điểm đến mặt trái. "Tượng" chỉ biến dịch của vạn vật biểu hiện qua các quẻ. Tám quẻ ba vạch tượng trưng ý nghĩa nào đó về sự vật, hiên tượng gọi là "Tượng". "Từ" là biểu thị Tượng về phương diện lành hay dữ, độnh hay tĩnh. Nguyên lý Âm Dương coi sự giao cảm biến hóa Âm Dương trong Thái cực là nguyên nhân căn bản tạo nên sự biến hóa trong Vũ trụ.
B- Tư tưởng Triết học về Ngũ hành
Từ "Ngũ hành" được dịch là năm yếu tố. Nhưng ta không nên coi chúng là những yếu tố tĩnh mà nên coi là năm thế lực động có ảnh hưởng đến nhau. Từ "hành" có nghĩa là "làm ", "hoạt động", cho nên từ "Ngũ hành" theo nghĩa đen là năm tác nhân (người ta cũng thường gọi là "Ngũ đức" có nghĩa là năm thế lực), đó là: "Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Trong đó, Thủy là nhuần nhã nhất, Hỏa-nóng trên, Mộc-cong thẳng, Kim-cắt được, Thổ- lợi mùa màng . Nhuần nhã dưới thì mặn , nóng trên thì đắng , cong thẳng thì chua , cắt được thì cay , mùa màng thì ngọt".
Qua nhiều thay đổi, bổ sung, tư tương Ngũ hành đến thời Chiến quốc đã phát triển thành một học thuyết tương đối hoàn chỉnh là "Ngũ hành sinh thắng . "Sinh" có nghĩa là dựa vào nhau mà tồn tại, "Thắng" có nghĩa là đối lập nhau.
Như vậy tư tưởng triết học về Ngũ hành có xu hướng phân tích cấu trúc của vạn vật và qui nó về những yếu tố khởi nguyên với những tính chất khác nhau nhưng tương tác với nhau . Đó là năm yếu tố: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Trong đó, Kim tượng trưng cho tính chất trắng, khô, cay, phía Tây, v.v.. Thủy tượng trưng cho tính chất đen, mặn, phía Bắc v.v..
Mộc tượng trưng cho tính chất xanh, chua, phía Dông v.v.. Hỏa tượng trưng cho tính chất đỏ, đắng, phía Nam v.v.. Còn Thổ tượng trưng cho chất vàng, ngọt, ở giữa v. v..
Năm yếu tố này không tồn tại biệt lập mà trong một hệ thống ảnh hưởng sinh - khắc với nhau theo hai nguyên tắc sau :
+ Tương sinh (Sinh hóa cho nhau): Thổ sinh Kim; Kim sinh Thủy; Thủy sinh Mộc; Mộc snh Hỏa; Hỏa sinh Thổ V.v..
+ Tương khắc (Chế ước lẫn nhau): Thổ khắc Thủy; Thủy khắc Hỏa; Hỏa khắc Kim; Kim khắc Mộc; Mộc khắc Thổ, v.v..
Thuyết Âm Dương và Ngũ hành được kết hợp làm một vào thời Chiến quốc , mà đai biểu lớn nhất là Trâu Diễn. Ông đã dùng hệ thống lý luận Âm Dương Ngũ hành "tương sinh tương khắc" để giải thích mọi vật trong Trời đất và giữa nhân gian. Từ đó phát sinh ra quan điểm duy tâm Ngũ đức có trước có sau. Từ thời Tần Hán về sau, các nhà thống trị có ý
thức phát triển thuyết Âm Dương Ngũ hành, biến thành một thứ Thần học, chẳng hạn thuyết "Thiên nhân cảm ứng" của Đổng Trọng Thư , hoặc "Phụng mệnh trời" của các triều đại sau đời Hán.
Vậy nên , một hoc thuyết Triết học chân chính bị xuyên tạc, để bói toán nhảm nhí thì lỗi không tại bản thân học thuyết. Cũng tương tự Truyện Kiều bị "diễn giải" thành những câu Sấm dùng để bói toán thì đâu phải tại cụ Tiên Điền Nguyễn Du ?
Hà yên is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 22-05-2008, 05:18 PM   #20
Độc hành Vạn lý
Không phải Vạn Lý Độc Hành
 
Độc hành Vạn lý's Avatar
 
Tham gia: Feb 2007
Bài gửi: 93
Độc hành Vạn lý is on a distinguished road
Chê bai: 6
Bị chê 5 lần trong 4 bài
Cám ơn: 70
Được cám ơn 16 lần trong 13 bài
Em thật em thấy bác vatly cứ chã chã thế nào ý nhỉ!

À, em nói thêm, là thực ra ý mà, quên khẩn trương mấy cái thứ Kinh Dịch âm dương ngũ hành này nọ khi mà mình là dân làm khoa học đi!

Luận về nguồn gốc ra đời và các triết lý tư tưởng phương Đông, rất khó mà ép duyên những cái kiểu Kinh Dịch âm dương ngũ hành với cả Khoa học hiện đại.

Kinh Dịch và các triết thuyết về âm dương ngũ hành nó có giá trị lịch sử của nó, nó có tính văn hóa của nó, muốn hiểu thế giới tư tưởng cũng như văn hóa phương Đông, thì cần phải hiểu biết về mấy cái này.

Nhưng đòi liên hệ và tán nhảm ép duyên Kinh Dịch, âm dương ngũ hành... với Khoa học hiện đại, thật sự là một sự nhảm nhí và thiếu tính khoa học!
__________________
=------=------=------==------=------=------=

: Người nhà của Admin nick đỏ đấy!

=------=------=------==------=------=------=
Độc hành Vạn lý is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 22-05-2008, 05:22 PM   #21
Hà yên
Junior Member
 
Tham gia: Dec 2007
Quốc gia:
Giới tính: Male
Bài gửi: 7
Hà yên is on a distinguished road
Chê bai: 0
Bị chê 2 lần trong 1 bài
Cám ơn: 1
Được cám ơn 2 lần trong 2 bài
Thuyết Âm - Dương, Ngũ hành là một học thuyết tiêu biểu nhất của Triết học Trung hoa cổ , trung đại. Vì là Triết học cho nên phương pháp luận nghiên cứu và nhận thức khác với phương pháp luận nghiên cứu Khoa học tự nhiên. Nó khác trong chính định nghĩa của Triết học :" Triết học là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về Thế giới; về vị trí, vai trò của con người trong Thế giới ấy." Vậy mà trong cuộc đăng đàn vè Âm-dương, Ngũ hành này, tôi linh cảm các diễn giả đã mải mê sa vào tìm kiếm phương pháp luận của Khoa học Tự nhiên bằng những khái niêm, công cụ nghiên cứu Tự nhiên. Tôi e là khiên cưỡng.
Tôi thấy cần giới thiệu lại cho tỏ tường vè thuyết Âm - dương, Ngũ hành : Âm dương và Ngũ hành là hai phạm trù quan trọng trong tư tưởng Triết học Trung hoa, là những khái niệm trừu tượng đầu tiên của người xưa đối với sự sản sinh biến hóa của Vũ trụ. Việc sử dụng hai phạm trù Âm dương và Ngũ hành đánh dấu bước tiến bộ tư duy khoa hoc đầu tiên nhằm thoát khỏi sự khống chế về tư tưởng do các khái niêm Thượng đế, Quỉ thần truyền thống đem lại. Đó là cội nguồn của quan điểm duy vật và biện chứng trong tư tưởng Triết học của người Trung hoa ;
A- Tư tưởng triết học về Âm - Dương.
"Dương" là ánh sáng Mặt trời, hay những gì thuộc về ánh sáng Mặt trời và ánh sáng, "Âm" có nghĩa là thiếu ánh sáng Mặt trời, tức là bóng râm hay bóng tối. Về sau ÂM -Dương được coi như hai khí ; hai nguyên lý hay hai thế lực Vũ trụ : biểu thị cho Giống đực , Hoạt động , Hơi nóng , Ánh sáng . Khôn ngoan , Rắn rỏi v. v.. tức là Dương, Giống cái , Thụ động , Khí lạnh , Bóng tối , Ẩm ướt , Mềm mỏng v.v.. tức là Âm. Chính do sự tác động qua lại giữa chúng mà sinh ra mọi sự vật, hiện tượng trong Trời đất.
Trong Kinh dịch sau này có bổ sung thêm lịch trình biến hóa của Vũ trụ có khởi điểm là Thái cực. Từ Thái cực mà sinh ra Lưỡng nghi (Âm-dương),
rồi Tứ tượng , rồi bát quái, Vậy, nguồn gốc Vũ trụ là Thái cực chứ không phải Âm - Dương. Đa số học giả cho Thái cực là thứ khí "Tiên Thiên". trong đó ẩn chứa hai nguyên tố ngược nhau về tính chất là Âm - Dương
Đây là một quan niệm tiến bộ so với quan niệm Thượng đế làm chủ Vũ trụ của các đời trước.
Hai thế lực Âm - Dương không tồn tại biệt lập mà thống ngất, chế ước lẫn nhau theo nguyên lý sau :
- Âm - Dương thống nhất thành Thái cực. Nguyên lý này nêu lên tính toàn vẹn, tính chỉnh thể, cân bằng của cái đa và cai đơn nhất. Chính nó bao hàm tư tưởng về sự thống nhất giữa cái bất biến và cái biến đổi.
- Trong Âm có Dương; trong Dương có Âm. Nguyên lý này nói lên khả năng biến đổi Âm - Dương đã bao hàm trong mỗi mặt đối lập của Thái cực.
Các nguyên lý trên được khái quát bằng một vòng tròn khép kín, có hai hình đen trắng tượng trưng cho Âm - Dương , hai hình này tuy cách biệt hẳn nhau, đối lập nhau nhưng ôm lấy nhau. Mặt khác, chỗ hình đen phồng ra có một điểm trắng, chỗ hình trắng phồng ra lại có một điểm đen; chỗ hình đen phổng ra là chỗ hình trắng thắt lại, ngược lại chỗ hình trắng phồng ra là chỗ hình đen thắt lại. Hình ảnh ấy diễn tả : Âm thịnh dần thì Dương suy dần, ngược lại Dương thịnh dần thì Âm suy dần; Khi Âm cực thịnh đã có một mầm Dương (điểm trắng) xuất hiên rồi, khi Dương cực thịnh đã có một mầm Âm (diểm đen) xuất hiện. Như vậy, chẳng những Âm - Dương xoắn lấy nhau mà trong Âm cò có Dương, trong Dương còn có Âm nữa.
Để giải thích lịch trình biến hóa trong Vũ trụ, người Trung hoa dẫ khái quát cái lôgic tất định : Thái cực sinh Lưỡng nghi (Âm - Dương), Lưỡng nghi sinh Tứ tượng (Thái Dương - Thiếu Âm -Thiếu Dương - Thái Âm) và Tứ tượng sinh Bát quái (Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài). Bát quái sinh ra vạn vật (vô cùng vô tận).
Tư tưởng Triết về học Âm - Dương đạt tới mức thành một hệ thống hoàn chỉnh trong tác phẩm Kinh Dịch. Tinh hoa của Kinh Dịch là Dịch, Tượng, Từ, với nguyên lý Âm Dương. "Dịch" là biến hóa của vạn vật. Qui luật biến hóa ấy là từ không rõ ràng đến rõ ràng, từ rõ ràng đến sâu sắc, từ sâu sắc đến kịch liệt, từ kịch liệt đến cao điểm, từ cao điểm đến mặt trái. "Tượng" chỉ biến dịch của vạn vật biểu hiện qua các quẻ. Tám quẻ ba vạch tượng trưng ý nghĩa nào đó về sự vật, hiên tượng gọi là "Tượng". "Từ" là biểu thị Tượng về phương diện lành hay dữ, độnh hay tĩnh. Nguyên lý Âm Dương coi sự giao cảm biến hóa Âm Dương trong Thái cực là nguyên nhân căn bản tạo nên sự biến hóa trong Vũ trụ.
B- Tư tưởng Triết học về Ngũ hành
Từ "Ngũ hành" được dịch là năm yếu tố. Nhưng ta không nên coi chúng là những yếu tố tĩnh mà nên coi là năm thế lực động có ảnh hưởng đến nhau. Từ "hành" có nghĩa là "làm ", "hoạt động", cho nên từ "Ngũ hành" theo nghĩa đen là năm tác nhân (người ta cũng thường gọi là "Ngũ đức" có nghĩa là năm thế lực), đó là: "Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Trong đó, Thủy là nhuần nhã nhất, Hỏa-nóng trên, Mộc-cong thẳng, Kim-cắt được, Thổ- lợi mùa màng . Nhuần nhã dưới thì mặn , nóng trên thì đắng , cong thẳng thì chua , cắt được thì cay , mùa màng thì ngọt".
Qua nhiều thay đổi, bổ sung, tư tương Ngũ hành đến thời Chiến quốc đã phát triển thành một học thuyết tương đối hoàn chỉnh là "Ngũ hành sinh thắng . "Sinh" có nghĩa là dựa vào nhau mà tồn tại, "Thắng" có nghĩa là đối lập nhau.
Như vậy tư tưởng triết học về Ngũ hành có xu hướng phân tích cấu trúc của vạn vật và qui nó về những yếu tố khởi nguyên với những tính chất khác nhau nhưng tương tác với nhau . Đó là năm yếu tố: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Trong đó, Kim tượng trưng cho tính chất trắng, khô, cay, phía Tây, v.v.. Thủy tượng trưng cho tính chất đen, mặn, phía Bắc v.v..
Mộc tượng trưng cho tính chất xanh, chua, phía Dông v.v.. Hỏa tượng trưng cho tính chất đỏ, đắng, phía Nam v.v.. Còn Thổ tượng trưng cho chất vàng, ngọt, ở giữa v. v..
Năm yếu tố này không tồn tại biệt lập mà trong một hệ thống ảnh hưởng sinh - khắc với nhau theo hai nguyên tắc sau :
+ Tương sinh (Sinh hóa cho nhau): Thổ sinh Kim; Kim sinh Thủy; Thủy sinh Mộc; Mộc snh Hỏa; Hỏa sinh Thổ V.v..
+ Tương khắc (Chế ước lẫn nhau): Thổ khắc Thủy; Thủy khắc Hỏa; Hỏa khắc Kim; Kim khắc Mộc; Mộc khắc Thổ, v.v..
Thuyết Âm Dương và Ngũ hành được kết hợp làm một vào thời Chiến quốc , mà đai biểu lớn nhất là Trâu Diễn. Ông đã dùng hệ thống lý luận Âm Dương Ngũ hành "tương sinh tương khắc" để giải thích mọi vật trong Trời đất và giữa nhân gian. Từ đó phát sinh ra quan điểm duy tâm Ngũ đức có trước có sau. Từ thời Tần Hán về sau, các nhà thống trị có ý
thức phát triển thuyết Âm Dương Ngũ hành, biến thành một thứ Thần học, chẳng hạn thuyết "Thiên nhân cảm ứng" của Đổng Trọng Thư , hoặc "Phụng mệnh trời" của các triều đại sau đời Hán.
Vậy nên , một hoc thuyết Triết học chân chính bị xuyên tạc, để bói toán nhảm nhí thì lỗi không tại bản thân học thuyết. Cũng tương tự Truyện Kiều bị "diễn giải" thành những câu Sấm dùng để bói toán thì đâu phải tại cụ Tiên Điền Nguyễn Du ?
Hà yên is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 23-05-2008, 07:24 PM   #22
Skywalker
walkin' imaginary time
 
Skywalker's Avatar
 
Tham gia: Mar 2006
Cư trú: Hà Nội
Quốc gia:
Giới tính: Male
Bài gửi: 933
Skywalker is on a distinguished road
Chê bai: 1
Bị chê 40 lần trong 35 bài
Cám ơn: 150
Được cám ơn 323 lần trong 221 bài
Send a message via Yahoo to Skywalker
@Độc hành Vạn lý
Chính thức thì cho đến giờ, ngành y tế VN vẫn không chịu lắng nghe ý kiến của bạn, bằng chứng là họ vẫn đào tạo ra cả đống nửa dơi nửa chuột có cái danh là bác sĩ (tương đương tối thiểu với cử nhân khoa học) chuyên khoa y học cổ truyền (lấy âm dương ngũ hành làm cớ sở lý luận chính)!

@Hà yên:
Chẳng hay bạn có thuộc danh môn chính phái nào theo cổ truyền dân tộc không mà viết tường tận thế nhỉ?

Vì bạn đã cảm thấy có sự khiên cưỡng trong những thảo luận trên đây nên tôi xin phép giải thích một chút thế này:

- Mô thức 2 của bác Vinhnx thực ra chính là cách nhận thức khái quát hóa mà các cụ chúng ta vẫn dùng trong âm dương ngũ hành. Có điều bác ấy viết như thể đó là một phương pháp nhận thức khoa học (scientific perception) mà không nói rõ vai trò trung tâm của chủ thể nhận thức (con người là cái rốn vũ trụ!

- Trọng tâm của chuỗi thảo luận là vấn đề con người có thể nhận thức được thế giới này đến đâu và như thế nào. Bác Vinhnx nhấn mạnh vấn đề kết hợp 2 mô thức (của nhận thức luận) trong các ứng dụng xử lý tính toán mà ngành tin học là đại diện. Hệ nhị phân với 2 giá trị (0.1) của một bit gây liên tưởng rất mạnh đến âm - dương, và chuỗi bit thì tạo ra vô số khả năng biểu diễn như thể bát quái biến hóa ra vạn vật vậy ??? Còn tôi. mặc dù chấp nhận sự kết hợp 2 mô thức, song lại nghi ngờ năng lực của hệ thống tin học trong việc mô phỏng thế giới thực (không cần phải chơi game Second Life mới thấy!

- Một lý do của sự nghi ngờ trên là sự phức tạp và hỗn loạn khủng khiếp của thế giới thực mà máy tính không thể theo kịp khi mà bản thân nó cũng là một phần trong đó. Nhưng quan trọng nhất là âm dương ngũ hành dù rất đơn giản, song mỗi con người lại có thể vận dụng chúng một cách riêng biệt để nhận thức và tiên đoán sự vật, tức là mỗi người có một database riêng bên cạnh cái engine chung. Căn cứ vào sự giống nhau về bản chất xử lý thông tin giữa máy tính và con người, tôi cho rằng máy tính phải tập hợp được database của một nhóm người thì mới có thể tính toán tương đường với sự nhất trí của nhóm người đó về sự vật. Cái máy tính chuyên gia đó sẽ rất yếu ớt khi phải xử lý nhiều bài toán khác nhau của thế giới thực.

- Cuối cùng, tôi muốn nếu một ví dụ về cái tượng biến hóa (Dịch lý) trong đời sống hiện đại, đó là định luật Moore của công nghiệp bán dẫn. Nó đã đúng trong một thời gian khá dài với động lực là mức cầu của thị trường, mà Dịch học gọi là dương trưởng. Dù người ta vẫn nói đến điểm dừng khi công nghệ chế tạo chíp đạt đến ngưỡng vật lý, nhưng tốc độ chip đã và đang tăng chậm lại (âm sinh) khi mà người dùng chuyển hướng từ chip đơn lõi sang đa lõi (core duo, core quad) có hiệu suất cao hơn. Mộc hóa hỏa rồi lại sinh kim, tôi đoán 1 quẻ rằng tiến bộ phần mềm sẽ tụt hậu rất xa so với phần cứng, vì kim thì thanh mà chắc, tượng của nó là người dùng phải dùng đồ cũ mà vẫn ngân nga với cái mới!.
Skywalker is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 23-05-2008, 10:03 PM   #23
Độc hành Vạn lý
Không phải Vạn Lý Độc Hành
 
Độc hành Vạn lý's Avatar
 
Tham gia: Feb 2007
Bài gửi: 93
Độc hành Vạn lý is on a distinguished road
Chê bai: 6
Bị chê 5 lần trong 4 bài
Cám ơn: 70
Được cám ơn 16 lần trong 13 bài
Trích:
Nguyên văn bởi Skywalker
@Độc hành Vạn lý
Chính thức thì cho đến giờ, ngành y tế VN vẫn không chịu lắng nghe ý kiến của bạn, bằng chứng là họ vẫn đào tạo ra cả đống nửa dơi nửa chuột có cái danh là bác sĩ (tương đương tối thiểu với cử nhân khoa học) chuyên khoa y học cổ truyền (lấy âm dương ngũ hành làm cớ sở lý luận chính)!


Ha ha, hay đấy, động đúng chỗ ngứa của em.

Cái này, để em tích phân thêm, xong bác có gì chỉ giáo em nhé:

Ý của em nói ở trên, là cái cách mà rất nhiều các bác cứ thích lôi Kinh Dịch Âm dương ngũ hành này nọ vào VẬT LÝ, một thứ tư duy rất là trân trối ép duyên vô tội vạ, trong khi chính các bác đó, theo cảm nhận của em là có khi còn chưa có cái tầm suy tư triết học của Phương Đông lẫn Phương Tây, tức là có khi còn chưa thấu hết cả Kinh Dịch, thuyết âm dương ngũ hành... với cả những thứ khoa học thực nghiệm xuất phát từ tư duy của Phương Tây.

Để nói rõ ý này, em nhân tiện nói luôn một số ý chính về y học, so sánh y học Phương Đông và y học Phương Tây. Nói thật với các bác, người thân nhà em có nhiều người cũng làm Đông Y, em cũng hóng hớt được tí ti.

Đại khái, những triết thuyết về Kinh Dịch hay Âm dương ngũ hành thì được xây dựng lên từ sự thống kê, theo cả không gian và thời gian. Việc thống kê thì không phải lúc nào cũng đúng khi áp dụng cho một đối tượng cụ thể. Tuy nhiên, cái tư duy của Phương Đông xưa, thì lại luôn có cái khát khao vươn tới sự tuyệt đối. Đấy là cái khác hẳn so với tư duy thực nghiệm và kiếm tìm các chân lý tương đối, đi tìm cái sự thỏa mãn tương đối của Phương Tây, nhất là Phương Tây cận đại và hiện đại.

Trong y học cổ truyền Phương Đông, thì các nguyên tắc được đưa ra có lịch sử khá là ngược với kiểu tư duy khoa học Phương Tây. Ví dụ như thế này: Trong cơ thể có lục phủ ngũ tạng, bằng kinh nghiệm tích cóp truyền qua truyền lại lâu đời thì người Phương Đông biết như thế. Còn hệ thống ngũ hành tương khắc tương sinh thì lại sinh ra trước hoặc độc lập với hiểu biết đó. Nhưng sau này, người ta gán cho mỗi hệ thống đơn lẻ trong cả cơ thể tương ứng với một hành, và áp dụng quy luật tương khắc tương sinh. Ví dụ một quy luật là "bồi mẹ bổ con". Khi người ta ốm, thì sẽ có biểu hiện lâm sàng (và thông qua các dụng cụ, nhất là bắt mặt, vấn hỏi, xem lưỡi xem da dẻ, xem nước tiểu, xem phân...) thì sẽ biết là bộ phận nào có vấn đề. Sau đó, xem bộ phận đó thuộc hành gì, thì ta sẽ chữa theo cách là tìm cái sinh ra nó để bồi bổ, và cũng bồi bổ cái nó sinh ra, hạn chế các yếu tố mang cách hành khắc nó... Khi mệt mỏi, đau đầu, bốc hỏa... thì ví dụ là tâm hư, mà tâm là thuộc Hỏa, ta biết là Mộc sinh Hỏa, và Hỏa sinh Thổ, vì vậy ta phải xem bộ phận nào của cơ thể là Mộc và Thổ để bồi bổ tác động khuếch trương vào đấy, và Thủy khắc Hỏa, thì phải hạn chế các yếu tố tương ứng với tính Thuỷ.

Vấn đề đặt ra là: VÌ SAO NGƯỜI TA LẠI ĐẶT ĐƯỢC TƯƠNG ỨNG MỖI BỘ PHẬN, HỆ THỐNG CƠ THỂ VỚI MỘT HÀNH TRONG NGŨ HÀNH?!

Và ta sẽ thấy, cái tư duy hơi ngược. Tức là sau khi có nhiều kinh nghiệm thống kê, biết là chữa cái A thì phải bồi bổ cái B, như vậy thì ta sẽ phải đặt A và B tương ứng với cách hành sao cho hành ứng với B phải sinh ra hành ứng với A. Như vậy, KHÔNG PHẢI ngũ hành tạo nên các nguyên tắc chữa bệnh, mà chẳng qua là nó là MỘT CÔNG CỤ để thể hiện, biểu diễn cách chữa bệnh. Người sau học, thì chả cần biết căn cớ nguồn gốc vì sao hệ thống hay bộ phận này lại tương ứng với hành này mà không phải hành khác, mà chỉ cần học thuộc các tương ứng đã được những người đi trước xác lập, và sử dụng quy luật tương sinh tương khắc...

Còn tư duy và cách thức khoa học hiện đại thì các bạn đã biết rồi, không phải nói lại nữa. Đơn cử thế này thôi: cũng quan sát và thực nghiệm rồi người ta đưa được ra các quy luật định luật khá tổng quát. Và sau đó áp dụng các định luật tổng quát này để giải thích hết các hiện tượng khác nằm trong phạm vi của định luật đó. Nhưng chỉ cần một lần nào đó, một hiện tượng, một thí nghiệm vi phạm định luật, thì định luật đi tong luôn, và người ta lại đi tìm một định luật mạnh hơn, căn bản hơn, chứa hoàn toàn định luật cũ, lại không vi phạm các hiện tượng mới phát hiện, thậm chí còn giải thích tốt hiện tượng mới đó, và còn tiên đoán ra nhiều hiện tượng khác mà người ta còn chưa biết hoặc chưa có điều kiện quan sát. Cứ thế cứ thế tiến lên. Ví dụ đơn giản là Cơ học Newton và Cơ học Einstein.

Vì vậy, một đằng là cái tư duy đòi hỏi vươn ngay tới cái tuyệt đối, sử dụng những kiến thức là kinh nghiệm thống kê và không bao giờ có sự chính xác quá cao, một đằng là cách tiệp cận dần chân lý, với các công cụ đo lường chính xác, và cách tư duy lô gíc hình thức, thậm chí là tư duy kiểu siêu hình. Hai cái khó mà ép duyên nhau.

Ngoài ra, cứ vướng mắc vào mấy thứ đấy, rất dễ bị tà hỏa nhập ma, chả làm được việc gì hữu ích trong cái thời đại khoa học kỹ thuật ngày nay.

Hãy đặt những triết thuyết như Kinh Dịch, Âm dương, Ngũ hành đúng vị trí của nó trong nền văn hóa Á Đông!
__________________
=------=------=------==------=------=------=

: Người nhà của Admin nick đỏ đấy!

=------=------=------==------=------=------=

thay đổi nội dung bởi: Độc hành Vạn lý, 23-05-2008 lúc 10:10 PM.
Độc hành Vạn lý is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Các thành viên gửi lời cám ơn tới Độc hành Vạn lý vì bài viết này:
Vạn lý Độc hành (31-08-2009)
Old 25-05-2008, 01:12 AM   #24
ngdlamvatly
Junior Member
 
Tham gia: Mar 2008
Quốc gia:
Giới tính: Male
Bài gửi: 2
ngdlamvatly is on a distinguished road
Chê bai: 0
Bị chê 0 lần trong 0 bài
Cám ơn: 22
Được cám ơn 2 lần trong 1 bài
Em quả thật không giỏi lắm về Kinh Dịch nhưng em thấy các bác bình phẩm hơi quá. Theo suy nghĩ của riêng em, Kinh Dịch có liên quan đến Triết học về mặt tình cảm thái độ và có liên quan đến Vật Lý và Toán Học về mặt lôgic. Quả thật, trong vật lý có quan hệ nhân quả cũng giống trong triết học và Kinh Dịch. Vì vậy, em đã từng dùng Dịch học để dự đoán thời tiết, về con người và biết được chút ít về tương lai.Nhưng chúng ta không thể dùng 1 máy tính để xem Kinh Dịch được vì số lượng các tham số của nó rất nhiều như: Tướng người, Nghề nghiệp hiện nay, Nhà ở, ... Nếu các bác nhìn tướng mạo của 1 ai đó, thấy được mối quan hệ của họ với xã hội, nếu kết hợp với tương tác cảm ứng ( phải tập Thiền mới có được) thì khi gieo quẻ chắc chắn sẽ biết được tuơng lai của người đó. Có thể các bác không tin nhưng em có biết và đã từng tham gia truy tìm Tội phạm bằng Kinh Dịch. Quả thật, Lưới Trời *****g Lộng Thưa mà Khó Lọt. Trên đây, chỉ là một vài ý kiến để các bác đánh giá.
ngdlamvatly is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 25-05-2008, 02:40 PM   #25
Skywalker
walkin' imaginary time
 
Skywalker's Avatar
 
Tham gia: Mar 2006
Cư trú: Hà Nội
Quốc gia:
Giới tính: Male
Bài gửi: 933
Skywalker is on a distinguished road
Chê bai: 1
Bị chê 40 lần trong 35 bài
Cám ơn: 150
Được cám ơn 323 lần trong 221 bài
Send a message via Yahoo to Skywalker
@Độc hành Vạn lý
Xin nhắc lại một tý về Dịch lý để sự so sánh được rõ ràng hơn, rằng Dịch học không chú trọng đến đối tượng (objects) mà là quan hệ (relation). Vì vậy chúng ta thường có cảm giác bất ngờ khi đọc các diễn giải của phương Đông, kiểu như bổ mẹ bổ con mà không rõ con với mẹ chúng cụ thể là gì. Tôi đồng ý với bạn rằng nhiều phương pháp chữa bệnh của Đông Y là xuất phát từ kinh nghiệm hay quá trình thử và sai trong nhiều đời, song cũng không nên vì thế mà vứt bỏ hoàn toàn các quy luật thống kê của nó, cụ thể là học thuyết kinh lạc - vốn dựa trên âm dương ngũ hành sinh khắc chế hóa.

Tôi cho rằng quan điểm "chỉ có quan hệ là tồn tại" của Dịch học là rất tiến bộ và phù hợp với cái nhìn của vật lý hiện đại, đặc biệt là cơ lượng tử. Tuy nhiên để vận dụng trong thế giới quan đối tượng hoá thì không dễ tý nào. Ví dụ, với một căn bệnh nào đó, chúng ta thường mong muốn vạch ra bệnh ở chỗ nào và nguyên nhân trực tiếp gây ra nó là gì ... để có cách chữa bệnh rõ ràng và nhanh nhất. Y học phương Tây làm rất tốt việc này khi "khoanh vùng" đối tượng bệnh lý và đề ra giải pháp xử lý trong phạm vi hẹp và khả dĩ kiểm soát. Trớ trêu thay thực tế lại có nhiều bệnh lý không thể tìm được nguyên nhân trực tiếp hay phạm vi giới hạn đến đâu, như một số bệnh dị ứng cho tới ung thư ... và ngày nay người ta phải mở rộng tầm nghiên cứu, đối mặt với sự phức tạp của cơ chế bệnh sinh toàn thân. Dần dà, người ta sử dụng lại những cách chữa bệnh theo kinh nghiệm của Đông Y và phối hợp tìm hiểu cả đối tượng bệnh lý lẫn quan hệ tổng thể trong và ngoài người bệnh.

Viết dài dòng như vậy để tìm câu trả lời cho câu hỏi của bạn: VÌ SAO NGƯỜI TA LẠI ĐẶT ĐƯỢC TƯƠNG ỨNG MỖI BỘ PHẬN, HỆ THỐNG CƠ THỂ VỚI MỘT HÀNH TRONG NGŨ HÀNH?! Rằng chúng ta tuyệt đối không nên nhằm lẫn sự quy ước theo ngũ hành của Đông Y với bộ phận cơ thể theo y học phương Tây, kiểu như tâm là tim, phế là phổi ...Khi tìm hiểu và vận dụng học thuyết kinh lạc, chúng ta có thể dễ bị nhầm lẫn sang tư duy đối tượng hoá vốn đã rất quen thuộc. Để khắc phục, thầy thuốc phải tách biệt 2 phần biện luận bệnh chứng theo Đông Y riêng, Tây Y riêng.

Trở lại với học hành, tôi cũng có phần nào đồng ý rằng cách tư duy chặt chẽ phân biệt rõ ràng của khoa học, là rất khó thích ứng với tư duy quan hệ rộng khắp của cổ truyền. Anh em nào không đủ công lực thì chớ nên đánh đu với cả 2 kiểu lý luận Đông Tây, dễ bị lạc đường lắm. Nếu có duyên (hoặc đủ độ say mê với Dịch học) thì cũng nên đi từ cơ bản trước đã, đừng vội thấy người ta bói toán biết vận mệnh tương lai ...vv.. mà nhào dzô nấu mỳ ăn liền, ăn không ngon sinh ra nghi ngờ rồi chửi tùm lum là hỏng bét!
Skywalker is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 08-08-2009, 11:24 AM   #26
vinhnx
Member
 
Tham gia: Mar 2008
Quốc gia:
Giới tính: Male
Bài gửi: 85
vinhnx is on a distinguished road
Chê bai: 0
Bị chê 2 lần trong 1 bài
Cám ơn: 3
Được cám ơn 61 lần trong 35 bài
Send a message via Yahoo to vinhnx
E7 và Tử Vi

Chào các bạn, để làm tươi lại chủ đề này tôi xin nhắc lại lời của người mở topic Vatly:

Trích:
Âm dương bát quái ngũ hành v.v. đã có tuổi đời rất lâu và thậm chí được dùng để miêu tả rất nhiều hiện tượng từ thiên nhiên tới xã hội ...

Các nghành khoa học vật lý vẫn nổi tiếng bởi các tri thức về các qui luật thiên nhiên có thể hiểu được đối với con người của chúng .

Vậy giữa học thuyết âm dương bát quái ngũ hành ắt phải có một sự tương đồng , hoặc chúng cũng phải được thể hiện qua nhau ...

Rất lâu về trước , cá nhân tôi đã được nghe giáo sư Hoàng Phương nói về cấu trúc đại số quartnion có hiện diện trong kinh dịch (?) và tử vi v.v.


Và dưới đây là một phần của Bài viết liên quan đến chủ đề.


Đại số Lie ngoại lệ E7 và Tử Vi

Tóm tắt

Tử vi đã có lịch sử rất lâu đời nhưng hiện tại nó vẫn có ảnh hưởng rất đáng kể trong đời sống xã hội ở Phương Đông. Yếu tố thiên văn, dáng vấp thiên văn là những điều rất dễ để nhận thấy trong cách thức trình bày của Tử vi. Tuy vậy quan điểm của bài viết này xem "Bầu trời Hoàng đạo" được liên kết đến các sao trong Tử vi có ý nghĩa chủ yếu là "khung biểu đạt thời gian lý tưởng" để diễn đạt "chương trình sống" của các đối tượng đã đạt tầm "ý thức lượng tử" như con người. Đại số Clifford Cl(16), đại số Octonion, đại số Jordan, đại số Sedenion... và nhất là đại số Lie ngoại lệ E7 theo các phát hiện gần đây cho thấy chúng rất thích hợp để mô tả các ManyWorld trong MacroSpace. Trên thực tế, mỗi một con người đều đạt được bậc liên kết thông tin > 10^18 tubulin nên đều có thể xem là một "Tiểu vũ trụ" (many-world), vì vậy việc sử dụng "Đa tạp + Nhóm" 133 chiều của đại số Lie E7 trong hệ thống Tử vi của Người xưa, rất nhiều khả năng là hiện thực...

1. Mở đầu

Con số 14 từ ngôi sao 14 cánh ở tâm của Trống đồng Ngọc Lủ theo tôi có lẽ phải mang một thông điệp hoặc một ý tứ nào đó rất thông thái từ Người xưa. Ta hãy để ý nếu cộng con số "18 chim lạc ở vòng ngoài" với "14 chim và 20 hươu ở vòng kế" thì tổng số sẽ bằng 52. Tiếp tục, nếu kể đến 12 người "lớn" ở vòng trong cùng và "14 cánh sao ở trung tâm" thì tổng số lại bằng 78 (xem hình). Vì vậy, tôi nghĩ thật ngây thơ khi cho rằng đây chỉ đơn giản là sự trùng hợp ngẫu nhiên hoặc chỉ là những họa tiết trang trí. Theo tôi chúng cũng không đơn thuần chỉ là một nghi biểu tín ngưỡng. Tử vi cũng có 14 Chính tinh, bài Tây có 52 lá, bài Tarot có 78 lá... và trên thực tế người ta thường dùng chúng như các công cụ để tiên đoán về vận mệnh của con người.



Hệ Can Chi được sử dụng trong Lý học để phân hoạch thời gian, nó có chu kỳ 60 và mỗi cung có ý nghĩa rất riêng mang tính chương trình. Với bán kỳ là 30, có sự liên hệ nào không trong khi nhóm Lie ngoại lệ E8 - 248 chiều cũng có biểu diễn 240 chiều phân hoạch theo 30 cung ?...




Thiên bàn, Địa bàn trong Tử vi chia thành 12 cung phải chăng chúng có sự liên hệ nào đó đến các nhóm Lie ngoại lệ G2, F4, E6 và E7 vì cấu trúc biểu diễn của các nhóm này cũng luôn có thể lập thành 12 cung ?...(Lưu ý chi tiết 60 là bội số chung nhỏ nhất của 30 và 12)


Biểu diễn 72 root system của nhóm E6 - 78 chiều


Để dự đoán các sự kiện mang tính vĩ mô Lý học Đông phương lại có môn Thái ất, với 16 cung phải chăng Thái ất có mối quan hệ nào đó đến đối tượng toán học rất đặc biệt là Sedenion ?...
Trong bài viết này chúng ta sẽ quan tâm đặc biệt đến sự tương đồng về cấu trúc của Tử vi và đối tượng toán học E7 - 133 chiều. Việc đầu tiên chúng ta hãy thử đếm xem Tử vi trên thực tế ứng dụng có tất cả bao nhiêu sao.

Hãy đếm một cách tự nhiên, không có sự gò ép, hể có sao nào được biểu diễn trên Địa bàn của Tử vi là ta đếm dù sao đó có lặp lại 2 lần như trong trường hợp các cặp Tuần lộ không vong và Triệt lộ không vong.
Theo cách này, Lá số của Tử vi Lạc Việt có đúng 126 sao. Các Lá số trên website xemtuong.com, tuviglobal.com … chỉ đếm được 113 vì người ta đã bỏ qua 4 sao Thiên sát, Ấm sát, Nguyệt sát, Quan sách và chưa kể đến 9 sao lưu động (113 + 4 + 9 = 126).

Về chi tiết 126 sao trong Tử vi Việt Nam gồm:

+ Vòng chính tinh: Tử vi, Liêm trinh, Thiên đồng, Vũ khúc, Thái dương, Thiên cơ - Thiên phủ, Thái âm, Tham lang, Cự môn, Thiên tướng, Thiên lương, Thất sát, Phá quân (14 sao).
+ Vòng Thái tuế: Thái tuế, Thiếu dương, Tang môn , Thiếu âm, Quan phù, Tử phù, Tuế phá, Long đức, Bạch hổ , Phúc đức, Điếu khách, Trực phù (12 sao).
+ Vòng Lộc tồn: Lộc tồn, Lực sĩ, Thanh long, Tiểu hao, Tướng quân,Tấu thơ, Phi liêm, Hỷ thần, Bệnh phù, Đại hao, Phục binh, Quan phủ (12 sao).
+ Vòng tràng sinh: Trường sinh. Mộc dục, Quan đới, Lâm quan, Đế vượng, Suy, Bệnh, Tử, Mộ, Tuyệt, Thai, Dưỡng (12 sao).
+ Vòng Thiên mã: Thiên mã, Hoa cái, Kiếp sát, Thiên sát, Nguyệt sát, Đào hoa (6 sao).
+ Thiên quan, Thiên phúc, Thiên trù, Thiên khôi, Thiên việt, Lưu hà, Văn tinh, Bác sĩ, Kình dương, Đà la, Quốc ấn, Đường phù (12).
+ Hóa lộc, Hóa quyền, Hóa khoa, Hóa kỵ (4 sao).
+ Thiên khốc, Thiên hư, Long trì, Phượng các, Hồng loan, Thiên hỉ, Thiên đức, Nguyệt đức, Giải thần (9 sao).
+ Thiên hình, Tả phù, Hữu bật, Thiên giải, Địa giải, Thiên riêu, Thiên y, Âm sát (8 sao).
+ Địa kiếp, Địa không, Văn xương, Văn khúc, Thai phụ, Phong cáo (6 sao).
+ Thiên không, Cô thần, Quả tú, Phá toái, Quan sách (5 sao).
+ Tam thai - Bát tọa (2 sao)
+ Ấn quang - Thiên quý (2 sao).
+ Thiên tài - Thiên thọ - Đẩu quân (3 sao).
+ Thiên thương - Thiên sứ (2 sao).
+ Hỏa tinh, Linh tinh (2 sao)
+ Thiên la - Địa võng (2 sao).
+ Triệt, Tuần (tính là 4 sao, do mỗi sao được gọi tên 2 lần và được an trên 2 cung của Địa bàn).
+ Lưu Thái tuế, Lưu Lộc tồn, Lưu Thiên mã, Lưu Tang môn, Lưu Thiên hư, Lưu Thiên khốc, Lưu Bạch hổ, Lưu Kình dương, Lưu Đà la (9 sao).

Tổng cộng ta có : 14 + 12 + 12 + 12 + 6 + 12 + 4 + 9 + 8 + 6 + 5 + 2 + 2 + 3 + 2 + 2 + 2 + 4 + 9 = 126.

Ngoài ra, rất có thể người ta đã không kể đến 7 sao nữa vì 133 mới là con số đủ so với chuổi số đặc biệt 14, 52, 78, 133 và 248. Nhưng với con số 126 sao như trong Tử vi Lạc Việt đã là mô hình tốt, trong biểu diễn nhóm Lie E7 người ta cũng chỉ thể hiện 126 root đỉnh.

Lưu ý các phép (+) ở đây là phép lấy tổng trực tiếp trong lý thuyết biểu diễn, chúng làm thay đổi bậc kích thước của đa tạp, không phải là tổng của các giá trị đại số.

Nếu chúng ta kể đến 7 sao còn lại của vòng Tướng tinh (vòng Thiên mã) vốn không còn được kể đến trong các Lá số tử vi Việt Nam gồm có “Tướng tinh - Phan an – Tuế dịch -Tức Thân - Tai Sát - Chỉ Bối - Vong Thần” thì ta đã được con số 126 + 7 = 133, tức là đúng bằng kích thước của nhóm Lie ngoại lệ E7 – 133 chiều.

Về nguyên tắc chúng ta sẽ dựa vào những điều đã được chứng minh chắc chắn về các nhóm Lie ngoại lệ, đại số Octonion, đại số Clifford, đại số Jordan… cũng như về các cấu trúc octonionic để khảo sát các cấu trúc khả dĩ tương đồng của Tử vi, ta không làm điều ngược lại.

Ngoài ra cũng nên lưu ý rằng, việc người ta có thể đã bỏ bớt một số sao mà theo họ là ít quan trọng trong kinh nghiệm giải đoán khi xây dựng một số lá số Tử vi là việc bình thường. Mục đích chính lâu nay vẫn là để “coi bói” chứ không phải là làm toán. Ngay trong khoa học người ta cũng thường giải các bài toán trong điều kiện hạn chế… phù hợp với các ứng dụng cụ thể hơn là giải chính xác.

2. Về các nhóm Lie và Ma phương Freudenthal-Tits...

Tự nhiên tồn tại và chỉ tồn tại 5 nhóm Lie ngoại lệ [1]. Nhóm G2 - 14 chiều là nhóm bé nhất trong bộ 5 nhóm Lie ngoại lệ G2 - F4 - E6 - E7 - E8. Nhóm E7 - 133 chiều - 126 root đỉnh là đối tượng mà chúng ta đang quan tâm. Chỉ có một số ít cấu trúc “đa tạp + nhóm” là nhóm Lie. Nhóm Lie của các phép biến đổi trong không gian n-chiều chỉ gồm 4 họ, chúng liên quan đến các không gian đối xứng chẳng hạn như không gian chiếu và các mặt cầu nhiều chiều. Cụ thể ta có:

An - nhóm các phép biến đổi unitarity trong không gian phức n chiều CPn = SU(n+1)/S(U(n)xU(1)), mặt cầu S(2n+1) = SU(n+1)/SU(n)
Bn - nhóm các phép quay trong không gian thực có số chiều lẻ, mặt cầu trên đó có số chiều chẵn S(2n) = SO(2n+1)/SO(2n)
Cn - nhóm các phép biến đổi trong không gian quaternion n chiều HPn = Sp(n+1)/Sp(n)xSp(1), mặt cầu S(4n+3) = Sp(n+1)/Sp(n)
Dn - nhóm các phép quay trong không gian thực có số chiều chẵn, mặt cầu trên đó có số chiều lẻ S(2n+1) = SO(2n+2)/SO(2n+1)

Bn, Dn là nhóm các phép quay thực, gọi là nhóm Spin(2n+1) và Spin(2n)
An là nhóm các phép quay phức tổng quát, gọi là nhóm unitarity SU(n+1)
Cn là nhóm các phép quay quarternion tổng quát, gọi là nhóm symplectic Sp(n)

Ngoài ra ta chỉ có 5 nhóm Lie khác gọi là các nhóm Lie ngoại lệ : G2, F4, E6, E7, và E8.

Các nhóm Lie ngoại lệ đều liên hệ đến các octonion, chúng không làm thành một họ vô hạn do tính không kết hợp của các octonion.

G2 là nhóm tự đẳng cấu của các octonion. G2 có 14 chiều, biểu diễn không tầm thường nhỏ nhất là 7 chiều.
F4 là nhóm tự đẳng cấu của các ma trận octonion 3x3. F4 có 52 chiều - 48 root đỉnh, biểu diễn không tầm thường nhỏ nhất là 26 chiều.
E6 là nhóm F4 mở rộng với binion (đại số phức). E6 có 78 chiều – 72 root đỉnh và biểu diễn không tầm thường nhỏ nhất là 27 chiều.
E7 là nhóm F4 mở rộng với quarternion. E7 có 133 chiều – 126 root đỉnh và biểu diễn không tầm thường nhỏ nhất là 56 chiều.
E8 là nhóm F4 mở rộng với octonion. E8 có 248 chiều – 240 root đỉnh và biểu diễn không tầm thường nhỏ nhất cũng là 248 chiều.

Các nhóm F4 - E6 - E7 - E8 tương ứng với quan hệ của octonion-real, octonion-complex, octonion-quaternion và octonion-octonion.

Chỉ số n của An, Bn, Cn, Dn và các con số của G2, F4, E6, E7, E8 thể hiện hạng của nhóm Lie tương ứng với đại số con Cartan Abel lớn nhất của chúng (theo quan điểm của đại số Lie). Đó cũng là kích thước của không gian Euclide theo giản đồ vector root vốn là những đối xứng xác định nhóm Weyl của chúng.

Với S3 = SU(2) = Spin(3) = Sp(1)J3(O)o - 26 chiều là ma trận octonion traceless 3x3 của đại số Jordan ngoại lệ [2], ta có:

E6 = F4 + J3(O)o.
E6/(Spin(10)xU(1)) có 78 – 45 – 1 = 32 chiều thực hay 16 chiều phức và nó là mặt phẳng chiếu Rosenfeld (CxO)P2

E7 = F4 + SU(2) + (S3 x J3(O)o).
E7/(Spin(12)xSU(2)) có 133 – 66 – 3 = 64 chiều thực hay 32 chiều phức và nó là mặt phẳng chiếu Rosenfeld (HxO)P2

E8 = F4 + G2 + (S7 x J3(O)o).
E8/Spin(16) có 248 – 120 = 128 chiều thực và nó là mặt phẳng chiếu Rosenfeld (OxO)P2

Để xác định mặt cầu nào là nhóm Lie, đầu tiên ta xét các phép quay thỏa bảng nhân nhóm. Ta chỉ có các phép quay của các mặt cầu trong không gian của các đại số có phép chia định chuẩn gồm R, C, H và O. Riêng với số thực R là mặt cầu 0 - chiều nên ta không xét. Vậy thì ta sẽ có các đại số phức C, đại số quarternion H và đại số octonion O.

Họ An chứa các phép quay phức trong mặt cầu đơn vị S1 - S1 là một nhóm Lie.
Họ Bn và Cn đều chứa các phép quay quarternion trên mặt cầu đơn vị S3 - S3 cũng là một nhóm Lie.
Họ Dn chứa nhóm Lorentz trong không gian 4 chiều, gồm 2 phiên bản của S3 (3 rotate và 3 boost).

Tuy nhiên, S7 không phải là một nhóm Lie do tính không kết hợp của các octonion.

Tính không kết hợp của octonion sẽ làm cho S7 giãn nở do nhận dạng Jacobi của các octonion khác không.

Do đó S7 chỉ là một mặt cầu đơn vị 7 chiều trong Đại số có phép chia định chuẩn Octonion. Cụ thể S7 giãn nở theo tích xoắn (x) của S7 (x) S7 (x) G2 - 28 chiều tương ứng với nhóm Lie D4 hay Spin(8).

Spin(8) là nhóm các phép quay trong không gian 8 chiều – không gian của các octonion. Spin(8) vừa là nhóm Lie tiêu chuẩn D4, vừa tồn tại trong các nhóm Lie ngoại lệ của các octonion, do đó Spin(8) là một nhóm Lie rất đặc biệt với 28 chiều. Đây cũng là nhóm thể hiện siêu đối xứng triality.





Siêu đối xứng triality D4 = Spin(8)

Đến đây chúng ta lại có sự tương đồng về kích thước của nhóm Spin(8) – 28 chiều và con số 28 trong “Nhị thập bát tú” của Lý học. Ngoài ra, theo tôi siêu đối xứng triality thể hiện trong giản đồ Dynkin của D4 = Spin(8) có sự tương ứng rất sâu sắc với siêu đối xứng Tam Tài "Thiên - Địa - Nhân" trong Lý học.

Các cấu trúc E6 - E7 - E8 có thể xây dựng dựa trên Ma phương Freudenthal-Tits, ma phương này thể hiện mối quan hệ giữa Đại số có phép chia định chuẩn (R, C, H, O) và Đại số ma trận. Trong đó:

Đại số có phép chia định chuẩn định nghĩa các hàng của Ma phương.
Đại số Jordan định nghĩa các cột của Ma phương. Và Đại số Lie định nghĩa các phần tử của Ma phương.

Đại số Jordan là đại số của các ma trận Hermitian với tích đối xứng.
Đại số Lie là đại số của các ma trận phản - Hermitian với tích phản xứng.

Ma phương Freudenthal-Tits bao gồm tất cả các Đại số Lie ngoại lệ, nhưng chỉ chứa một vài đại số Lie tiêu chuẩn A, C, và D.

Ta có bảng:


+ Các cột là các đại số Jordan J = R, J3(R), J3(C), J3(H), J3(O) (J3(K) là đại số của các ma trận Hermitian 3x3 trên K)
+ Các hàng là các đại số A = R, C, H, O
+ Các phần tử ma phương 4x5 là các đại số Lie L được tạo thành bởi qui tắc:

L = Der(A) + (A0xJ0) + Der (J)

Trong đó Der là phép lấy vi phân, + là tổng trực tiếp, x là tích tensor, A0 là các phần tử thuần ảo của A, R0=S0, C0=S1, H0=S3, O0=S7 và J0 là các phần tử trace - zero của đại số Jordan J.

Sn là đại số của các vector tangent trên mặt cầu n-chiều. S0, S1, S3 là các đại số Lie và S7 là một đại số Malcev. Lưu ý:

A1 = SU(2), A2 = SU(3), A5 = SU(6), C3 = Sp(3), D6 = SO(12) (Spin(12) và G2, F4, E6, E7, và E8 là các đại số Lie ngoại lệ.

Xét kích thước của các đại số Lie :





Nếu Aij có k – kích thước thì Aii thực, kích thước ma trận là 3k + 3. Nếu trace = tổng các phần tử trên đường chéo = 0, kích thước ma trận sẽ là 3k + 2 chiều. Do đó đối với:

R: 3x1 + 2 = 5
C: 3x2 + 2 = 8
H: 3x4 + 2 = 14
O: 3x8 + 2 = 26

Ma phương Freudenthal-Tits có thể định dạng E8 [2].
Bắt đầu với D4 = Spin(8) ta có:
28 = 28 + 0 + 0 + 0 + 0 + 0 + 0
Thêm 2 spinor-8 và 1 vector-8 ta được F4:
52 = 28 + 8 + 8 + 8 + 0 + 0 + 0
Bây giờ, "phức hóa" phần 8+8+8 của F4 ta được E6:
78 = 28 + 16 + 16 + 16 + 1 + 0 + 1
Kế tiếp, "quaternion hóa" phần 8+8+8 của F4 ta được E7:
133 = 28 + 32 + 32 + 32 + 3 + 3 + 3
Cuối cùng, "octonion hóa" phần 8+8+8 của F4 ta có E8:
248 = 28 + 64 + 64 + 64 + 7 + 14 + 7




Biểu diển 240 root system của E8

3. Về sự tương đồng hình thức biểu diễn của nhóm G2 và nhóm 14 Chính tinh

Không gian biểu diễn root system của G2-14 chiều - 12 root đỉnh thể hiện như hình 1. Biểu diễn trên mặt phẳng được phân thành 2 lớp 6/8 như hình 2.


Tương tự như trong hình 2, với đúng 14 chính tinh của Tử vi ta có 2 lớp 6/8 đã được đặt tên : Tử vi – Liêm trinh – Thiên đồng – Vũ khúc – Thái dương – Thiên cơ và Thiên phủ - Thái âm– Tham lang – Cự môn – Thiên tướng – Thiên lương – Thất sát – Phá quân.
Các trục màu đỏ sẽ được gọi là trục Tử vi và trục màu xanh được gọi là trục Thiên phủ.

4. Về sự tương đồng hình thức biểu diễn của nhóm F4 và nhóm 48 sao có cấu trúc riêng

Xin lưu ý khái niệm có cấu trúc riêng (đặc biêt) được dùng ở đây xét theo nghĩa có cấu trúc biểu diễn rất riêng đã được thể hiện trên Địa bàn. Theo nghĩa này ta có:

+ Vòng chính tinh: Tử vi, Liêm trinh, Thiên đồng, Vũ khúc, Thái dương, Thiên cơ - Thiên phủ, Thái âm, Tham lang, Cự môn, Thiên tướng, Thiên lương, Thất sát, Phá quân (14 sao).
+ Vòng Thái tuế: Thái tuế, Thiếu dương, Tang môn , Thiếu âm, Quan phù, Tử phù, Tuế phá, Long đức, Bạch hổ , Phúc đức, Điếu khách, Trực phù (12 sao).
+ Vòng Tràng sinh: Trường sinh. Mộc dục, Quan đới, Lâm quan, Đế vượng, Suy, Bệnh, Tử, Mộ, Tuyệt, Thai, Dưỡng (12 sao).
+ Vòng Thiên mã: Thiên mã, Hoa cái, Kiếp sát, Thiên sát, Nguyệt sát, Đào hoa (6 sao).
+ Triệt - Tuần (4 sao).

Tổng cộng ta có: 14 + 12 + 12 + 6 + 4 = 48 sao, ta tạm gọi là nhóm 48 sao có cấu trúc riêng hay 48 sao đặc biệt theo nghĩa đơn giản là để phân biệt với nhóm các sao còn lại trên Địa bàn.

Không gian biểu diễn của F4 - 52 chiều , 48 root đỉnh biểu diễn trên mặt phẳng được thể hiện như ở hình 3.




Biểu diễn root system của F4 trong mối liên hệ đến Tử vi được thể hiện ở hình 4. Một cách hình thức ta có:
+ 14 chính tinh tương ứng với các root vector trên đỉnh 2 ngôi sao 6 cánh và 2 root vector biểu thị bằng 2 hình tròn nhỏ màu vàng.
+ 12 sao của vòng Thái tuế tương ứng với 12 root vector trên vòng tròn màu đỏ.
+ 12 sao của vòng Tràng sinh tương ứng với 12 root vector trên vòng tròn màu xám.
+ 6 sao vòng Thiên mã tương ứng với 6 đỉnh trong của 6 tam giác màu vàng.
+ 2 sao Triệt và 2 sao Tuần tương ứng với các root vector biểu thị bằng 2 hình tròn nhỏ màu đỏ và 2 hình tròn nhỏ màu xanh.



5. Về sự tương đồng hình thức biểu diễn của nhóm E7 và các sao của Tử vi

E6 = F4 + (S1 x J3(O)o) có 72 root đỉnh biểu diễn như hình 5.




Ta có E7 = F4 + SU(2) + (S3 x J3(O)o) , trong đó có 52 chiều của F4 + 3 chiều của SU(2) + 78 chiều của (S3xJ3(O)o) = 133 chiều.

Không gian biểu diễn của E7-133 chiều - 126 root đỉnh biểu diễn trên mặt phẳng được thể hiện như ở hình 6.

E7 = E6 + U(1) + J3(O) x (1 + 1*)

Ma trận octonionic J3(O): 8 + 8 + 8 + 1 + 1 + 1= 27 chiều, trong đó ký hiệu O biểu thị các Octonion)





Biểu diễn 126 root system khác của E7 trong mối liên hệ khả dĩ đến Tử vi có thể được thể hiện ở hình 7.

E7 = F4 + SU(2) + (S3 x J3(O)o)

Ma trận traceless octonionic J3(O)o: 12 + 12 + 1 + 1 = 26 chiều)


Xét biểu diễn E7 trên hình 7, bộ 48 sao trung tâm trong Tử vi một cách hình thức gồm:

+ Vòng chính tinh: Tử vi, Liêm trinh, Thiên đồng, Vũ khúc, Thái dương, Thiên cơ - Thiên phủ, Thái âm, Tham lang, Cự môn, Thiên tướng, Thiên lương, Thất sát, Phá quân (14 sao).
+ Vòng Thái tuế: Thái tuế, Thiếu dương, Tang môn , Thiếu âm, Quan phù, Tử phù, Tuế phá, Long đức, Bạch hổ , Phúc đức, Điếu khách, Trực phù (12 sao).
+ Vòng tràng sinh: Trường sinh. Mộc dục, Quan đới, Lâm quan, Đế vượng, Suy, Bệnh, Tử, Mộ, Tuyệt, Thai, Dưỡng (12 sao).
+ Vòng Thiên mã: Thiên mã, Hoa cái, Kiếp sát, Thiên sát, Nguyệt sát, Đào hoa (6 sao).
+ Triệt - Tuần (4 sao)

Với 78 sao còn lại biểu diễn trên Địa bàn của Tử vi một cách hình thức ta tạm xếp làm 3 nhóm 26 sao:

+ Lộc tồn, Lực sĩ, Thanh long, Tiểu hao, Tướng quân,Tấu thơ, Phi liêm, Hỷ thần, Bệnh phù, Đại hao, Phục binh, Quan phủ + Thiên quan, Thiên phúc, Lưu hà, Thiên trù, Văn tinh, Thiên khôi, Thiên việt, Kình dương, Đà la, Bác sĩ, Quốc ấn, đường phù + Thiên la, Địa võng.

+ Thiên không, Cô thần, Quả tú, Phá toái, Quan sách + Thiên khốc, Thiên hư, Long trì, Phượng các, Hồng loan, Thiên hỉ, Thiên đức, Nguyệt đức, Giải thần, Tả phù, Hữu bật, Thiên giải, Địa giải, Thiên riêu, Thiên y, Âm sát + Hóa lộc, Hóa quyền, Hóa khoa, Hóa kỵ.

+ Tam thai, Bát tọa + Ấn quang, Thiên quý + Thiên tài, Thiên thọ, Đẩu quân + Thiên thương, Thiên sứ + Văn xương, Văn khúc, Thai phụ, Phong cáo, Hỏa tinh, Linh tinh, Địa không, Địa kiếp + Lưu Thái tuế, Lưu Lộc tồn, Lưu Thiên mã, Lưu Tang môn, Lưu Thiên hư, Lưu Thiên khốc, Lưu Bạch hổ, Lưu Kình dương, Lưu Đà la.

6. Khái quát về qui tắc an sao của Tử vi

Nhằm xác định sự phụ thuộc chính xác của từng sao tử vi vào các tham số thời gian gồm ngày, tháng, năm (can, chi), giờ sinh và giới tính tôi đã cố gắng khái quát qui tắc an sao thành các công thức hoặc bảng tra, sao cho chúng hoàn toàn tương đương với cách thức an sao truyền thống.
Dưới đây là các biểu thức số học, hoặc bảng tra cụ thể để an từng sao trong Tử vi Việt Nam.

Đầu tiên ta ký hiệu:
/ : phép chia lấy phần nguyên
% : phép chia lấy phần dư

Lấy ngày sinh, tháng sinh, năm sinh và giờ sinh theo hệ can chi (âm lịch)

Đặt:


Chi tháng sinh N(tháng) = [tháng sinh + 9]%12
Chi giờ sinh N(giờ) = [giờ sinh % 2 + giờ sinh/2 + 10]%12
Chỉ số ngày sinh N(ngày) = ngày sinh (âm lịch)
Nam : p = 0, Nữ: p = 1 và bit dấu s = (-1)^[N(năm) + p]



Dưới đây là công thức hoặc qui tắc an 126 sao:

Sao định vị Địa bàn: 2 sao
N(thiên la) = 2
N(địa võng) = 8

Phân cung Tử vi
N(huynh đệ) = (11 + N(tháng) – N(giờ)) % 12
N(mệnh) = (12 + N(tháng) – N(giờ)) % 12
N(phụ mẫu) = (13 + N(tháng) – N(giờ)) % 12
N(phúc đức) = (14 + N(tháng) – N(giờ)) % 12
N(điền trạch) = (15 + N(tháng) – N(giờ)) % 12
N(quan lộc) = (16 + N(tháng) – N(giờ)) % 12
N(nô bộc) = (17 + N(tháng) – N(giờ)) % 12
N(thiên di) = (18 + N(tháng) – N(giờ)) % 12
N(tật ách) = (19 + N(tháng) – N(giờ)) % 12
N(tài bạch) = (20 + N(tháng) – N(giờ)) % 12
N(tử tức) = (21 + N(tháng) – N(giờ)) % 12
N(phu thê) = (22 + N(tháng) – N(giờ)) % 12
N(thân) = ( 4 + N(tháng)+ N(giờ)) % 12



Mệnh, Thân phụ thuộc vào tháng và giờ. Cục phụ thuộc vào thiên can, tháng sinh và giờ sinh

Vòng chính tinh: 14 sao
Đặt:
k = (Cục – N(ngày) % Cục) % Cục
l = (Cục – k) /Cục
m = N(ngày) /Cục
N(tử vi) = [(l+1)%2] [(12+m+ k(– 1)^k)%12] + l[(m-1)%12]
N(liêm trinh) = [N(tử vi) + 4]%12
N(thiên đồng) = [N(tử vi) + 7]%12
N(vũ khúc) = [N(tử vi) + 8]%12
N(thái dương) = [N(tử vi) + 9]%12
N(thiên cơ) = [N(tử vi) +11]%12
N(thiên phủ) = [12 + N(tử vi) – 2 (N(tử vi) % 6)]%12
N(thái âm) = [N(thiên phủ) + 1]%12
N(tham lang) = [N(thiên phủ) + 2]%12
N(cự môn) = [N(thiên phủ) + 3]%12
N(thiên tướng) = [N(thiên phủ) + 4]%12
N(thiên lương) = [N(thiên phủ) + 5]%12
N(thất sát) = [N(thiên phủ) + 6]%12
N(phá quân) = [N(thiên phủ) +10]%12

Các sao vòng chính tinh phụ thuộc vào tháng sinh, ngày sinh, giờ sinh và can của năm sinh.

Vòng tràng sinh: 12 sao
Theo tử vi đẩu số:
N(trường sinh) = [(Cục + 1)%2][3((6 – Cục)/2)] + [Cục%2][6 + 3[(6 – Cục)/2]]
Theo tử vi Lạc Việt:
N(trường sinh) = [(Cục + 1)%2][3(Cục/3)] + [Cục%2][3 + 6[(6 – Cục)/2]]

N(mộc dục) = [12 + N(trường sinh) + 1s] % 12
N(quan đới) = [12 + N(trường sinh) + 2s] % 12
N(lâm quan) = [12 + N(trường sinh) + 3s] % 12
N(đế vượng) = [12 + N(trường sinh) + 4s] % 12
N(suy) = [12 + N(trường sinh) + 5s] % 12
N(bệnh) = [12 + N(trường sinh) + 6s] % 12
N(tử) = [12 + N(trường sinh) + 7s] % 12
N(mộ) = [12 + N(trường sinh) + 8s] % 12
N(tuyệt) = [12 + N(trường sinh) + 9s] % 12
N(thai) = [12 + N(trường sinh) +10s] % 12
N(dưỡng) = [12 + N(trường sinh) +11s] % 12

Các sao vòng tràng sinh phụ thuộc vào cục và bit dấu tức là phụ thuộc vào tháng sinh, giờ sinh, giới tính và can/chi của năm sinh.

Vòng Thái tuế: 12 sao
N(thái tuế) = N(năm)
N(thiếu dương) = [ 1 + N(năm)] % 12
N(tang môn) = [ 2 + N(năm)] % 12
N(thiếu âm) = [ 3 + N(năm)] % 12
N(quan phù) = [ 4 + N(năm)] % 12
N(tử phù) = [ 5 + N(năm)] % 12
N(tuế phá) = [ 6 + N(năm)] % 12
N(long đức) = [ 7 + N(năm)] % 12
N(bạch hổ) = [ 8 + N(năm)] % 12
N(phúc đức) = [ 9 + N(năm)] % 12
N(điếu khách) = [ 10 + N(năm)] % 12
N(trực phù) = [ 11 + N(năm)] % 12

Các sao vòng thái tuế chỉ phụ thuộc vào chi của năm sinh

Vòng Thiên mã: 6 sao
N(thiên mã) = [3 + 3((N(năm) % 4 + 1)%2) + 6((N(năm) % 4)/2) ] % 12
N(hoa cái) = [N(thiên mã) + 2] % 12
N(kiếp sát) = [N(thiên mã) + 3] % 12
N(thiên sát) = [N(thiên mã) + 4] % 12
N(nguyệt sát) = [N(thiên mã) + 5] % 12
N(đào hoa) = [N(thiên mã) + 7] % 12

Các sao vòng thiên mã chỉ phụ thuộc vào chi của năm sinh

Vòng Lộc tồn: 12 sao
N(Lộc tồn) tra theo bảng:



N(lực sĩ) = [12 + N(lộc tồn) + 1s] % 12
N(thanh long) = [12 + N(lộc tồn) + 2s] % 12
N(tiểu hao) = [12 + N(lộc tồn) + 3s] % 12
N(tướng quân) = [12 + N(lộc tồn) + 4s] % 12
N(tấu thơ) = [12 + N(lộc tồn) + 5s] % 12
N(phi liêm) = [12 + N(lộc tồn) + 6s] % 12
N(hỷ thần) = [12 + N(lộc tồn) + 7s] % 12
N(bệnh phù) = [12 + N(lộc tồn) + 8s] % 12
N(đại hao) = [12 + N(lộc tồn) + 9s] % 12
N(phục binh) = [12 + N(lộc tồn) +10s] % 12
N(quan phủ) = [12 + N(lộc tồn) +11s] % 12

Các sao vòng lộc tồn phụ thuộc vào can của năm sinh và bit dấu tức là phụ thuộc vào can/chi của năm sinh và giới tính

Sao triệt : 2 sao
N(triệt) = [2((9 – M(năm)) % 5) + 10] % 12
N(triệt*) = [2((9 – M(năm)) % 5) + 10] % 12 + 1

Các sao triệt chỉ phụ thuộc vào can của năm sinh

Sao tuần : 2 sao
N(tuần) = 10 - [12 + M(năm) – N(năm)] % 12
N(tuần*) = 11 - [12 + M(năm) – N(năm)] % 12

Các sao tuần phụ thuộc vào can/chi của năm sinh

Sao thuần chi: 11 sao
N(thiên không) = [1 + N(năm)] % 12
N(long trì) = [4 + N(năm)] % 12
N(nguyệt đức) = [ 5 + N(năm)] % 12
N(thiên hư) = [ 6 + N(năm)] % 12
N(thiên đức) = [ 9 + N(năm)] % 12
N(quan sách) = [ 11 + N(năm)] % 12
N(thiên khốc) = [ 14 – N(năm)] % 12
N(thiên hỉ) = [17 – N(năm)] % 12
N(phượng các) = [18 – N(năm)] % 12
N(giải thần) = [18 – N(năm)] % 12
N(hồng loan) = [23 – N(năm)] % 12

Sao thuần tháng: 8 sao
N(thiên riêu) = [1 + N(tháng)] % 12
N(thiên y) = [1 + N(tháng)] % 12
N(tả phù) = [4 + N(tháng)] % 12
N(địa giải) = [7 + N(tháng)] % 12
N(thiên giải) = [8 + N(tháng)] % 12
N(thiên hình) = [9 + N(tháng)] % 12
N(hữu bật) = [18 – N(tháng)] % 12
N(âm sát) = [32 – 2N(tháng)] % 12

Sao thuần giờ: 6 sao
N(văn khúc) = [4 + N(giờ)] % 12
N(thai phụ) = [6 + N(giờ)] % 12
N(phong cáo) = [2 + N(giờ)] % 12
N(địa kiếp) = [11 + N(giờ)] % 12
N(văn xương) = [18 - N(giờ)] % 12
N(địa không) = [19 - N(giờ)] % 12

Sao tháng – ngày: 2 sao
N(tam thai) = [3 + N(tháng) + N(ngày)] % 12
N(bát tọa) = [43 - N(tháng) - N(ngày)] % 12

Sao tháng – giờ: 2 sao
N(thiên thương) = [17 + N(tháng) – N(giờ)] % 12
N(thiên sứ) = [19 + N(tháng) – N(giờ)] % 12

Sao năm – tháng – giờ: 3 sao
N(thiên tài) = [14 + N(năm) + N(tháng) – N(giờ)] % 12
N(thiên thọ) = [ 6 + N(năm) + N(tháng) + N(giờ)] % 12
N(đẩu quân) = [12 + N(năm) – N(tháng) + N(giờ)] % 12

Sao giờ - ngày: 2 sao
N(thiên quý) = [30 - N(ngày) + N(giờ)] % 12
N(ấn quang) = [50 - N(ngày) - N(giờ)] % 12

Sao năm – giờ – giới tính: 2 sao
N(hỏa tinh) = [((N(năm)%4 + 1)/2 + 11)%12 + sN(giờ)] % 12
N(linh tinh) = [12 + (5( 4 - N(năm) %4 ) /4 ) + 8)% 12 - sN(giờ)]% 12

Sao thuần can: 12 sao
Tra theo bảng:


Bộ tứ hóa: 4 sao

Hóa quyền và Hóa lộc chỉ đồng cung với các sao của vòng chính tinh, tức là luôn phụ thuộc vào tháng sinh, ngày sinh, giờ sinh và can của năm sinh.
Hóa khoa ngoài khả năng an đồng cung với các chính tinh đôi khi chỉ đồng cung với các sao Văn xương, Văn khúc, Tả phù, Hữu bật vốn là các sao chỉ phụ thuộc vào giờ sinh (Văn xương, Văn khúc ) hoặc tháng sinh (Tả phù, Hữu bật).
Hóa kỵ có thể an đồng cung với các chính tinh hoặc đồng cung với các sao Văn xương, Văn khúc vốn là các sao chỉ phụ thuộc vào giờ sinh.

Bảng an tứ hóa


Sao lưu động: 9 sao

Chi năm lưu động N(năm_lđ) = [năm_lđ + 6] % 12
Can năm lưu động M(năm_lđ) =[năm_lđ + 6] % 10
N(lưu thái tuế) = N(năm_lđ)
N(lưu tang môn) = [N(năm_lđ) + 2]%12
N(lưu bạch hổ) = [N(năm_lđ) + 8]%12
N(lưu thiên hư) = [ 6 + N(năm_lđ)]%12
N(lưu thiên khốc) = [ 14 – N(năm_lđ)]%12
N(lưu thiên mã) = [3 + 3((N(năm_lđ) % 4 + 1)%2) + 6((N(năm_lđ) % 4)/2) ] % 12
An sao Lưu Lộc tồn tương tự sao Lộc tồn trong đó thay M(năm) -> M(năm_lđ) và thay N(lộc tồn) bằng N(lưu Lộc tồn) theo bảng:



N(lưu kình dương) = [N(lưu lộc tồn) + 1]%12
N(lưu đà la) = [N(lưu lộc tồn) + 11]%12

Trong bài viết có nói đến các sao còn lai của vòng Tướng tinh (vòng Thiên mã), dưới đây là công thức an 7 sao này:

N(tướng tinh) = 1 + 3[(N(năm) % 4 + 1)%2] + 6[(N(năm) % 4)/2]
N(phan an) = [N(tướng tinh) + 1] % 12
N(tuế dịch) = [N(tướng tinh) + 2] % 12
N(tức thân) = [N(tướng tinh) + 3] % 12
N(chỉ bối) = [N(tướng tinh) + 8] % 12
N(tai sát) = [N(tướng tinh) +10] % 12
N(vong thần) = [N(tướng tinh) +11] % 12

7. Cấu trúc root system của Nhóm G2 và sự tương đồng với qui tắc an sao của 14 Chính tinh

Chi tiết hơn bây giờ ta sẽ xét qui tắc an sao của vòng Tử vi trong sự tương đồng khả dĩ với cấu trúc root vector của nhóm G2. Xem hình 8.




Ta biết theo Tử vi thì :”Sau khi an sao Tử Vi, theo chiều thuận cách sao Tử vi 3 cung an sao Liêm trinh, cách Liêm trinh 2 cung an sao Thiên đồng, tiếp theo Thiên đồng là sao Vũ khúc, sau Vũ khúc là Thái dương, cách Thaí dương 1 cung an sao Thiên cơ”.



Tương tự, ta xét qui tắc an sao của vòng Thiên phủ.
Theo Tử vi: “sau khi an sao Thiên phủ, theo chiều thuận, lần lượt mỗi cung an một sao, theo thứ tự: Thái âm, Tham lang, Cự môn, Thiên tướng, Thiên lương, Thất sát. Cách Thất sát 3 cung an sao Phá Quân”.



8. Cấu trúc root system của Nhóm F4 và sự tương đồng với qui tắc an sao của 48 sao trung tâm

48 sao trung tâm gồm:

+ Vòng chính tinh: Tử vi, Liêm trinh, Thiên đồng, Vũ khúc, Thái dương, Thiên cơ - Thiên phủ, Thái âm, Tham lang, Cự môn, Thiên tướng, Thiên lương, Thất sát, Phá quân (14 sao).
+ Vòng Thái tuế: Thái tuế, Thiếu dương, Tang môn , Thiếu âm, Quan phù, Tử phù, Tuế phá, Long đức, Bạch hổ , Phúc đức, Điếu khách, Trực phù (12 sao).
+ Vòng tràng sinh: Trường sinh. Mộc dục, Quan đới, Lâm quan, Đế vượng, Suy, Bệnh, Tử, Mộ, Tuyệt, Thai, Dưỡng (12 sao).
+ Vòng Thiên mã: Thiên mã, Hoa cái, Kiếp sát, Thiên sát, Nguyệt sát, Đào hoa (6 sao).
+ Triệt - Tuần (4 sao).
Chi tiết hơn bây giờ ta sẽ xét qui tắc an sao của 48 sao trung tâm trong sự tương đồng khả dĩ với cấu trúc root vector của nhóm F4. Xem hình 9.
Xét lá số: Nam - giờ tuất, ngày 1, tháng 3 năm kỷ mão
N(năm) = mão = 1
M(năm) = kỷ = 5
N(tháng) = tháng 3 = 0
N(ngày) = ngày = 1
N(giờ) = tuất = 8
Ta có:
N(mệnh) = [12 + N(tháng) – N(giờ)]%12 = 4 = ngọ
N(thân) = [4 + N(tháng) + N(giờ)]%12 = 12%12 = 0 = dần
i = [(N(mệnh) + 1)%2 + N(mệnh) -1]/2 = [(4+1)%2 + 4 -1]/2 = 2
j = M(năm)%5 = 5%5 = 0
Theo bảng tra cục => Cục[2,0] = 5 = Thổ ngũ cục
k = (Cục – N(ngày) % Cục) % Cục = ((5 - 1)%5)%5 = 4
l = (Cục – k) /Cục = (5-1)/5 = 0
m = N(ngày) /Cục = 1/5 = 0
N(tử vi) = [(l + 1) % 2] [ (12 + m + k x (– 1)^k) % 12] + l [(m - 1) % 12] = (12+4)%12 = 4 = ngọ
N(liêm trinh) = (N(tử vi) + 4) % 12 = 8 = tuất
N(thiên đồng) = (N(tử vi) + 7) % 12 = 11 = sửu
N(vũ khúc) = (N(tử vi) + 8) % 12 = 0 = dần
N(thái dương) = (N(tử vi) + 9) % 12 = 13%12 = 1 = mão
N(thiên cơ) = (N(tử vi) +11) % 12 = 15%12 = 3 = tỵ
N(thiên phủ) = [N(tử vi) + (12 – 2 (N(tử vi)%6))]%12 = [4+(12-2(4%6))]%12 = 8 = tuất
N(thái âm) = (N(thiên phủ) + 1) % 12 = 9 = hợi
N(tham lang) = (N(thiên phủ) + 2) % 12 = 10 = tý
N(cự môn) = (N(thiên phủ) + 3) % 12 = 11 = sửu
N(thiên tướng) = (N(thiên phủ) + 4) % 12 = 12%12 = 0 = dần
N(thiên lương) = (N(thiên phủ) + 5) % 12 = 13%12 = 1 = mão
N(thất sát) = (N(thiên phủ) + 6) % 12 = 14%12 = 2 = thìn
N(phá quân) = (N(thiên phủ) +10) % 12 = 18%12 = 6 = thân
N(thái tuế) = N(năm) = 1 = mão
Theo tử vi đẩu số:
N(trường sinh) = [(Cục + 1)%2][3((6 – Cục)/2)] + [Cục%2][6 + 3[(6 – Cục)/2]]= 6 = thân
Theo tử vi Lạc Việt:
N(trường sinh) = [(Cục + 1)%2][3(Cục/3)] + [Cục%2][3 + 6[(6 – Cục)/2] = 3 = tỵ
N(thiên mã) = [3 + 3((N(năm)%4 + 1)%2) + 6((N(năm)%4)/2)]%12 = 3 = tỵ
N(hoa cái) = [N(thiên mã) + 2]%12 = 5 = mùi
N(kiếp sát) = [N(thiên mã) + 3]%12 = 6 = thân
N(thiên sát) = [N(thiên mã) + 4]%12 = 7 = dậu
N(nguyệt sát) = [N(thiên mã) + 5]%12 = 8 = tuất
N(đào hoa) = [N(thiên mã) + 7]%12 = 10 = tý
N(triệt) = [2((9 – M(năm))%5) + 10]%12 = 18%12 = 6 = thân
N(triệt*) = [2((9 – M(năm))%5) + 10] % 12 + 1 = 7 = dậu
N(tuần) = 10 - [12 + M(năm) – N(năm)]%12 = 6 = thân
N(tuần*) = 11 - [12 + M(năm) – N(năm)]%12 = 7 = dậu




Tử vi an tại ngọ. Trục tử vi tương ứng với trục Tý – Ngọ màu đỏ, trục thiên phủ tương ứng với trục Thìn – Tuất màu xanh và Thiên phủ sẽ được an tại Tuất. Tương tự như mục 7, các sao của vòng Tử vi tương ứng với các đỉnh của ngôi sao 6 cánh ở trung tâm, các sao của vòng Thiên phủ sẽ tương ứng với các đỉnh của ngôi sao 6 cánh lớn ở ngoài và 2 root màu vàng tương ứng với các sao Thất sát và Phá quân như trên hình 9. Tiếp theo:
Vòng Thái tuế có 12 sao tương ứng với 12 root nằm trên vòng tròn màu đỏ.
Vòng Tràng sanh có 12 sao tương ứng với 12 root nằm trên vòng tròn màu xám.
Vòng Tướng tinh thiếu hay vòng Thiên mã gồm 6 sao: Thiên mã, Hoa cái, Kiếp sát, Thiên sát, Nguyệt sát, Đào hoa nằm đúng trên các root thuộc 6 đỉnh phía trong của 6 tam giác màu vàng.

9. Cấu trúc root system của Nhóm E6 và qui tắc an sao của 72 sao trung tâm

Tuy chưa thật tường minh nhưng vẫn còn một khả năng khác trong đó cấu trúc trung tâm của Tử vi tuân theo nhóm E6 (xem hình 6). Trong trường hợp này 72 sao trung tâm của Tử vi có thể gồm:

+ Vòng chính tinh: Tử vi, Liêm trinh, Thiên đồng, Vũ khúc, Thái dương, Thiên cơ - Thiên phủ, Thái âm, Tham lang, Cự môn, Thiên tướng, Thiên lương, Thất sát, Phá quân (14 sao).
+ Vòng Thái tuế: Thái tuế, Thiếu dương, Tang môn , Thiếu âm, Quan phù, Tử phù, Tuế phá, Long đức, Bạch hổ , Phúc đức, Điếu khách, Trực phù (12 sao).
+ Vòng tràng sinh: Trường sinh. Mộc dục, Quan đới, Lâm quan, Đế vượng, Suy, Bệnh, Tử, Mộ, Tuyệt, Thai, Dưỡng (12 sao).
+ Vòng Lộc tồn: Lộc tồn, Lực sĩ, Thanh long, Tiểu hao, Tướng quân,Tấu thơ, Phi liêm, Hỷ thần, Bệnh phù, Đại hao, Phục binh, Quan phủ (12 sao).
+ Vòng Thiên mã: Thiên mã, Hoa cái, Kiếp sát, Thiên sát, Nguyệt sát, Đào hoa (6 sao)
+ Triệt - Tuần (4 sao)
+ Vòng 12 sao sẽ được chọn thích hợp theo qui tắc an sao tử vi đã biết ?

Hoặc với cấu trúc khác:

+ Vòng chính tinh: Tử vi, Liêm trinh, Thiên đồng, Vũ khúc, Thái dương, Thiên cơ - Thiên phủ, Thái âm, Tham lang, Cự môn, Thiên tướng, Thiên lương, Thất sát, Phá quân (14 sao).
+ Vòng Thái tuế: Thái tuế, Thiếu dương, Tang môn , Thiếu âm, Quan phù, Tử phù, Tuế phá, Long đức, Bạch hổ , Phúc đức, Điếu khách, Trực phù (12 sao).
+ Vòng tràng sinh: Trường sinh. Mộc dục, Quan đới, Lâm quan, Đế vượng, Suy, Bệnh, Tử, Mộ, Tuyệt, Thai, Dưỡng (12 sao).
+ Vòng Lộc tồn: Lộc tồn, Lực sĩ, Thanh long, Tiểu hao, Tướng quân,Tấu thơ, Phi liêm, Hỷ thần, Bệnh phù, Đại hao, Phục binh, Quan phủ (12 sao).
+ Vòng Tướng tinh: Tướng tinh, Phan an, tuế dịch, Tức thân, Hoa cái, Kiếp sát, Thiên sát, Nguyệt sát, Chỉ bối, Đào hoa, Tai sát, Vong thần (12 sao).
+ Triệt - Tuần (4 sao)
+ Vòng 6 sao sẽ được chọn thích hợp theo qui tắc an sao tử vi đã biết ?

Xét lá số: Nữ - giờ ngọ, ngày 12, tháng 6 năm mậu thân
N(năm) = thân = 6
M(năm) = mậu = 4
N(tháng) = tháng 6 = 3
N(ngày) = ngày = 12
N(giờ) = ngọ = 4
Ta có:
N(mệnh) = [12 + N(tháng) – N(giờ)]%12 = 11 = sửu
N(thân) = [4 + N(tháng) + N(giờ)]%12 = 11 = sửu
i = [(N(mệnh) + 1)%2 + N(mệnh) - 1]/2 = 5
j = M(năm)%5 = 4
Theo bảng tra cục => Cục[5,4] = 4 = Kim tứ cục
k = (Cục – N(ngày) % Cục) % Cục = ((4 - 0)%4)%4 = 0
l = (Cục – k) /Cục = 1
m = N(ngày) /Cục = 12/4 = 3
N(tử vi) = [(l + 1) % 2] [ (12 + m + k x (– 1)^k) % 12] + l [(m - 1) % 12] = 2 = thìn
N(liêm trinh) = (N(tử vi) + 4) % 12 = 6 = thân
N(thiên đồng) = (N(tử vi) + 7) % 12 = 9 = hợi
N(vũ khúc) = (N(tử vi) + 8) % 12 = 10 = tý
N(thái dương) = (N(tử vi) + 9) % 12 = 11 = sửu
N(thiên cơ) = (N(tử vi) +11) % 12 = 1 = mão
N(thiên phủ) = [N(tử vi) + (12 – 2 (N(tử vi)%6))]%12 = [2+(12-2(2%6))]%12 = 10 = tý
N(thái âm) = (N(thiên phủ) + 1) % 12 = 11 = sửu
N(tham lang) = (N(thiên phủ) + 2) % 12 = 0 = dần
N(cự môn) = (N(thiên phủ) + 3) % 12 = 1 = mão
N(thiên tướng) = (N(thiên phủ) + 4) % 12 = 2 = thìn
N(thiên lương) = (N(thiên phủ) + 5) % 12 = 3 = tỵ
N(thất sát) = (N(thiên phủ) + 6) % 12 = 4 = ngọ
N(phá quân) = (N(thiên phủ) +10) % 12 = 8 = tuất
N(thái tuế) = N(năm) = 6 = thân
Theo tử vi đẩu số:
N(trường sinh) = [(Cục + 1)%2][3((6 – Cục)/2)] + [Cục%2][6 + 3[(6 – Cục)/2]]= 3 = tỵ
Theo tử vi Lạc Việt:
N(trường sinh) = [(Cục + 1)%2][3(Cục/3)] + [Cục%2][3 + 6[(6 – Cục)/2] = 3 = tỵ
N(thiên mã) = [3 + 3((N(năm)%4 + 1)%2) + 6((N(năm)%4)/2)]%12 = [3 + 3 + 6]%12= 0 = dần
N(hoa cái) = [N(thiên mã) + 2]%12 = 2 = thìn
N(kiếp sát) = [N(thiên mã) + 3]%12 = 3 = tỵ
N(thiên sát) = [N(thiên mã) + 4]%12 = 4 = ngọ
N(nguyệt sát) = [N(thiên mã) + 5]%12 = 5 = mùi
N(đào hoa) = [N(thiên mã) + 7]%12 = 7 = dậu
N(triệt) = [2((9 – M(năm))%5) + 10]%12 = 10 = tý
N(triệt*) = [2((9 – M(năm))%5) + 10] % 12 + 1 = 11 = sửu
N(tuần) = 10 - [12 + M(năm) – N(năm)]%12 = 10 = tý
N(tuần*) = 11 - [12 + M(năm) – N(năm)]%12 = 11 = sửu



Vòng Chính tinh, vòng Thái tuế, vòng Tràng sinh, vòng Thiên mã và các sao Tuần - Triệt được an tương tự như mục 8. Vòng Lộc tồn tương ứng với 12 sao trên vòng tròn màu xanh lam. Như vậy thì 12 sao được an trên vòng 12 sao trên vòng tròn màu xanh lá phải được chọn thích hợp trong các sao còn lại của Tử vi. Hoặc:




Vòng Chính tinh, vòng Thái tuế, vòng Tràng sinh và các sao Tuần - Triệt được an tương tự như mục 8. Vòng Lộc tồn tương ứng với 12 sao trên vòng tròn màu xanh lá. Giả thiết vòng Tướng tinh tương ứng với 12 sao trên vòng tròn màu xanh lam, vậy thì 6 sao được an trên 6 đỉnh trong của 6 tam giác màu vàng phải được chọn thích hợp trong các sao còn lại của Tử vi.

(còn tiếp)

Tài liệu tham khảo
[1] Octonions - J. Baez
[2] Physics of E8 and Cl(16) - Frank D. Smith - 7/2008
[3] Clifford Algebra as Quantum Language - James Baugh, David Ritz Finkelstein, Andrei Galiautdinov - 01/2009
[4] Physics from Ancient African Oracle to E8 - Frank D. Smith - 2008
[5] Tử vi đẩu số toàn thư - Hi Di Trần Đoàn / Vũ Tài Lục biên dịch và bình chú.
[6] Tử vi khảo luận - Hoàng Thường, Hàm Chương
[7] Tử vi đẩu số tân biên - Vân Đằng Thái Thứ Lang
[8] Tử vi tinh điển - Vũ Tài Lục
[9] Tử vi hàm số - Nguyễn Phát Lộc
[10] Số Tử vi dưới mắt Khoa Học - Hà Thúc Hồng, Vu Thiên, Nguyễn Đắc Lộc.
[11] Tử vi ảo bí biện chứng học- Hà Lạc Dã Phu Việt Viêm Tử
[12] Tử vi tướng pháp trọn đời - Bửu Sơn
[13] Tử vi tổng hợp - Nguyễn Phát Lộc
[14] Tử vi hoàn toàn khoa học - Đằng Sơn
[15] Sách tử vi - Trừ Mê Tín
[16] Magic Squares of LIE Algebras - C.H. Barton and A. Sudbery - 2008
[17] Triality, Exceptional LIE Algebras and Deligne Dimension Formulas - J.M. Landsberg and L. Manivel
[18] An Exceptionally Simple Theory of Everything - A. Garrett Lisi - 11/2007

Nguyễn Xuân Quang
quangnx_ltd@yahoo.com

thay đổi nội dung bởi: vinhnx, 08-08-2009 lúc 02:06 PM.
vinhnx is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Các thành viên gửi lời cám ơn tới vinhnx vì bài viết này:
hoa_bat_tu_1906 (22-12-2010), tubaroi (24-05-2010)
Old 08-08-2009, 04:58 PM   #27
leonardo.archi
Junior Member
 
Tham gia: Aug 2009
Quốc gia:
Giới tính: Male
Bài gửi: 13
leonardo.archi is on a distinguished road
Chê bai: 0
Bị chê 1 lần trong 1 bài
Cám ơn: 0
Được cám ơn 5 lần trong 4 bài
khủng khiếp thật
leonardo.archi is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Các thành viên gửi lời cám ơn tới leonardo.archi vì bài viết này:
ooker777 (19-11-2010)
Old 09-08-2009, 11:31 PM   #28
Skywalker
walkin' imaginary time
 
Skywalker's Avatar
 
Tham gia: Mar 2006
Cư trú: Hà Nội
Quốc gia:
Giới tính: Male
Bài gửi: 933
Skywalker is on a distinguished road
Chê bai: 1
Bị chê 40 lần trong 35 bài
Cám ơn: 150
Được cám ơn 323 lần trong 221 bài
Send a message via Yahoo to Skywalker
@Vinhnx

Hồi còn đi học, tôi có đem cuốn "Đông Y học dưới ánh sáng của lý thuyết tập mờ" của GS Hoàng Phương, hỏi thầy giáo (cũng là 1 GS Y khoa) thì thầy lắc đầu và bảo đó là "mê hồn trận" mà không giải quyết được các vấn đề thực tiễn (chữa bệnh).

Từ đó đến nay tôi vẫn mong chờ 1 bác bỏ cho ý kiến của thầy, vì nếu quả thật các công cụ toán mà xử lý được các giải đoán "lý số" thì tương lai trí tuệ nhân tạo làm bá chủ đã rất gần.

Tôi dốt đặc về toán cao cấp, nhưng đọc qua bài của bác thì thấy là bác mới tìm mối liên hệ, hay cách giải thích Tử vi dưới góc độ toán (kiểu như tôi chứng minh Thượng đế là Vũ trụ vậy! ). Nếu bác đã làm được nhiều hơn thif cho tôi biết nhé!

P/s: có khi cậu Kakalotta với diễn đàn PhDvn.org sẽ nhiệt tình chia sẻ với bác hơn ở đây. Có gì mình sang đó bàn nhé.
Skywalker is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Old 11-08-2009, 08:49 PM   #29
vinhnx
Member
 
Tham gia: Mar 2008
Quốc gia:
Giới tính: Male
Bài gửi: 85
vinhnx is on a distinguished road
Chê bai: 0
Bị chê 2 lần trong 1 bài
Cám ơn: 3
Được cám ơn 61 lần trong 35 bài
Send a message via Yahoo to vinhnx
Trích:
Nguyên văn bởi Skywalker
Tôi dốt đặc về toán cao cấp, nhưng đọc qua bài của bác thì thấy là bác mới tìm mối liên hệ, hay cách giải thích Tử vi dưới góc độ toán (kiểu như tôi chứng minh Thượng đế là Vũ trụ vậy! ). Nếu bác đã làm được nhiều hơn thif cho tôi biết nhé!

Sky ạ, tôi nghĩ Sky nên giữ lễ thì anh em mình mới có thể giữ được mối quan hệ lâu dài... tôi không quen với cách nói chuyện "bề trên, trịch thượng" như vậy đâu !?...

thân
vinhnx is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Các thành viên gửi lời cám ơn tới vinhnx vì bài viết này:
Skywalker (11-08-2009)
Old 11-08-2009, 10:36 PM   #30
Skywalker
walkin' imaginary time
 
Skywalker's Avatar
 
Tham gia: Mar 2006
Cư trú: Hà Nội
Quốc gia:
Giới tính: Male
Bài gửi: 933
Skywalker is on a distinguished road
Chê bai: 1
Bị chê 40 lần trong 35 bài
Cám ơn: 150
Được cám ơn 323 lần trong 221 bài
Send a message via Yahoo to Skywalker
Chết thật, xin lỗi bác Vinhnx vì những khó chịu em gây ra cho bác. Em nhầm bác với 1 cậu cũng tên là Quang, cũng mê tử vi nhưng tuổi thì mới U 30. Còn ý kiến về bài viết của bác thì em vẫn giữ nguyên, vì em chưa tìm thấy hướng đi nào cho phép bác giải đoán 1 lá số tử vi cụ thể?!

Một lần nữa mong bác bỏ quá cho lỗi xưng hô và cách viết mà bác thấy vô lễ ở bài trước. Đồng thời cũng mong bác cho em được 1 phen mở mắt bởi những bước tiến trí tuệ mà em chưa được biết!

Trân trọng cám ơn bác.
Skywalker is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Trả lời


Ðang đọc: 1 (0 thành viên và 1 khách)
 
Ðiều Chỉnh
Xếp Bài

Quyền Sử Dụng Ở Diễn Ðàn
Bạn không được quyền gởi bài
Bạn không được quyền gởi trả lời
Bạn không được quyền gởi kèm file
Bạn không được quyền sửa bài

vB code đang Mở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt
Chuyển đến

Chủ đề tương tự
Ðề tài Người gửi Forum Trả lời Bài viết mới
Nhìn lại những giải Nobel về Vật lí 1901-2004 you know who Lịch sử và danh nhân Vật lý 13 06-07-2006 12:11 AM
Bản đồ chiến lược Bunhia Toán học trong Vật Lý 2 26-03-2006 01:43 PM
Khoa học và Phật giáo trước ngã tư đường Duc Phuong Triết học trong Vật Lý và Toán Học 1 23-03-2006 03:55 PM
Đồng thời - tương ứng eros Triết học trong Vật Lý và Toán Học 0 09-03-2006 10:11 AM
Thuyết Thiên Địa vạn vật nhất thể eros Triết học trong Vật Lý và Toán Học 0 09-03-2006 10:07 AM




Powered by vBulletin, PhysicsVN Community
Copyright ©2014 All Rights Reserved.