Nếu bạn thích chạy xe nhanh, thế nào bạn cũng đối mặt với hiệu ứng dịch chuyển Doppler. Viên cảnh sát giao thông muốn đo tốc độ xe của bạn chỉ cần dùng một súng radar phát ra một sóng viba chiếu vào bạn, do sự chuyển động của bạn, tần số sóng phản xạ sẽ bị thay đổi cho phép đo chính xác vận tốc của bạn. Sự thay đổi này tần số này chính là hiệu ứng dịch chuyển Doppler với các sóng. Và mới đây, các nhà vật lí Pháp đã áp dụng mô hình hiệu ứng này ở một dạng khác để xác định một cách chính xác dòng điện tử phân cực spin đi qua một vật dẫn. Kỹ thuật này sẽ giúp ích rất nhiều trong việc phát triển các linh kiện spintronics, khai thác đồng thời spin và điện tích của điện tử trong các linh kiện điện tử mới hoạt động hữu hiệu hơn rất nhiều so với các linh kiện truyền thống (xem bài báo mới đăng trên Science 322 410).
Theo thông tin mới nhất từ hội đồng bình chọn giải Nobel 2008, giải Nobel Vật lý năm nay được trao cho ba nhà vật lý trong lĩnh vực vật lý hạt cơ bản, vì những đóng góp của họ trong nghiên cứu phá vỡ tính đối xứng và hạt quark. Một nửa giải Nobel được trao cho nhà vật lý đến từ Đại học Chicago (Mỹ) và một nửa còn lại được trao cho hai đồng tác giả đến từ Nhật Bản.
Các vật liệu sắt điện là một ứng cử viên hứa hẹn cho bộ nhớ không tự xóa (cùng với vật liệu từ và điện môi). Tuy nhiên, một vấn đề lớn là tính chất sắt điện rất dễ bị phá hủy bởi các kỹ thuật quang khắc truyền thống. Một tiến bộ mới trong kỹ thuật chế tạo gọi là in stencil (stencil patterning) có thể là một giải pháp khắc phục điều này. Woo Lee (Viện Max Planck về Vật lý Vi cấu trúc ở Halle), cùng với các đồng nghiệp Hàn Quốc đã sử dụng kỹ thuật này để tạo ra các ma trận mật độ cao các tụ điện nano sắt điện với mật độ lưu trữ đạt đến 176 Gb/inch2 – một kỷ lục cho loại vật liệu này. Kỹ thuật này không làm phá hủy cấu trúc sắt điện, không giống như kỹ thuật quang khắc top-down hiện tại.
Nhóm nghiên cứu hợp tác giữa Đại học Cornell (Mỹ) và Hitachi vừa công bố họ đã đạt được những tiến bộ quan trọng trong việc xây dựng bộ nhớ spintronics mà cụ thể ở đây là cải thiện tính chất ổn định nhiệt của các hạt nano từ tính, yếu tố quyết định để tạo ra linh kiện lưu trữ thông tin dựa trên spin, bằng lắng đọng thêm một lớp mỏng Al (nhôm) lên trên các hạt. Cải tiến này giúp cho việc giảm tiểu tính chất “tắt dần từ” ở nhiệt độ thấp và có thể sử dụng các hạt để ứng dụng trong các link kiện spintronics ví dụ như các dao động tử nano spin-torque hay bộ nhớ với mật độ siêu cao (Nature Materials 7 (2008) 567).
Có thể nói các cấu trúc nano của carbon đang được coi là các vật liệu trung tâm của công nghệ nano như ống nano carbon (carbon nanotube), bọt nano carbon (nano-foams), fullerence, graphen… Và mới đây, các nhà nghiên cứu vật liệu ở Phòng thí nghiệm Quốc gia Los Alamos (Mỹ) và Đại học Phúc Đán (Trung Quốc) vừa phát hiện ra một dạng vật liệu carbon mới là ống carbon khổng lồ. Ống carbon mới này có kích thước hàng ngàn lần lớn hơn so với các loại carbon khác, đồng thời có tính chất cơ và điện tuyệt vời và có thể sử dụng trong nhiều ứng dụng từ các linh kiện vi điện cho đến áo giáp đỡ đạn…
Ngày nay, kính hiển vi điện tử quét không còn xa lạ với những người làm nghiên cứu khoa học vật liệu, vật lý chất rắn, hóa học, hay y – sinh học… Kính hiển vi điện tử quét (sau đây dùng là SEM, là chữ viết tắt của Scanning Electron Microscope) đang ngày càng trở nên phổ biến trong các phòng thí nghiệm cho các phép phân tích bề mặt với độ phân giải cao. Bài viết của Tiến sĩ Debbie Stokes, Khoa Vật lý, Đại học Cambridge (Vương quốc Anh), thành viên Hiệp hội Hiển vi Hoàng gia Anh sẽ cho ta một cái nhìn tổng quát về sự phát triển của SEM, về những cuộc “cách mạng trầm lặng” đang diễn ra trong các phòng thí nghiệm SEM.